fbpx
7.5 C
Toronto
Monday, October 26, 2020

Kinh tế Trung Quốc khó vượt qua Mỹ

Mới Nhất

Sóng gió trong quan hệ Việt-Trung

Mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc rất phức tạp và thường xuyên gặp rắc rối.

Cảnh sát Toronto bắt đầu xử dụng máy ảnh trên người vào tuần cuối tháng 10

Bắt đầu từ 26/10/2020, cảnh sát Toronto sẽ bắt đầu xử dụng công nghệ máy ảnh đeo trên người khi tiếp xúc với công chúng.

NDP thắng cử ở British Columbia, từ chính quyền thiểu số thành đa số

John Horgan trở thành thủ hiến NDP hai nhiệm kỳ đầu tiên trong lịch sử British Columbia

VIA Rail sẽ bắt buộc người không đeo khẩu trang trình giấy chứng nhận y tế

Kể từ ngày 9/11/2020, VIA Rail Canada sẽ yêu cầu bất kỳ ai khó đeo khẩu trang vì lý do sức khỏe...

Tiêu Điểm

Cảnh sát Toronto bắt đầu xử dụng máy ảnh trên người vào tuần cuối tháng 10

Bắt đầu từ 26/10/2020, cảnh sát Toronto sẽ bắt đầu xử dụng công nghệ máy ảnh đeo trên người khi tiếp xúc với công chúng.

Thủ lãnh Đảng Bảo thủ đòi tống cổ đại sứ Trung Quốc nếu không công khai xin lỗi người Canada

“Một lời đe dọa đối với người Canada ở bất cứ nơi đâu là lời đe dọa đối với người Canada ở mọi nơi”

Cách Trung Quốc xử dụng Trí Tuệ Nhân Tạo để kiểm soát người dân

Cuộc chiến tranh bá quyền không dừng lại với sự sụp đổ của Đức quốc xã vào năm 1945, hay của Liên Xô vào năm 1991 - nó chỉ đơn giản chuyển sang trực tuyến internet.

Nhà hoạt động nhân quyền Phạm Đoan Trang mới bị bắt

Theo thông tin từ các thân hữu của nhà báo, nhà hoạt động nhân quyền Phạm Đoan Trang cho biết, cô đã...

Tác giả: Michael Beckley | Lược dịch: Nguyễn Minh Mẫn
Michael Beckley giáo sư trợ giảng môn khoa học chính trị Đại học Tufts và Viện Doanh nghiệp Hoa Kỳ (American Enterprise Institute)

Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong ba thập kỷ qua rất ngoạn mục, thậm chí kỳ diệu.

Tuy nhiên, vỏ bọc tốc độ tăng trưởng hai con số còn che lấp các khoản nợ tiềm ẩn, điều đó hạn chế khả năng của Trung Quốc thu hẹp khoảng cách giàu nghèo với Hoa Kỳ. Trung Quốc đã đạt được tăng trưởng cao với chi phí cao, và hiện nay chi phí đang tăng lên trong khi tốc độ tăng trưởng đang chậm lại. Như tôi giải thích trong một cuốn sách gần đây, dữ liệu tính đến những chi phí này cho thấy rằng Hoa Kỳ giàu gấp nhiều lần so với Trung Quốc và khoảng cách dường như đang tăng lên hàng nghìn tỷ đô la mỗi năm. Kết luận này có thể khiến nhiều người ngạc nhiên vì Trung Quốc có GDP (tổng sản lượng quốc gia) lớn hơn, tỷ lệ đầu tư, dòng chảy thương mại lớn hơn và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn Hoa Kỳ.

Làm thế nào Trung Quốc có sản xuất, đầu tư và kinh doanh vượt qua Hoa Kỳ — và đang sở hữu gần 1,2 nghìn tỷ đô la nợ trái phiếu Mỹ- nhưng vẫn có ít tài sản hơn rất đáng kể?

Lý do là nền kinh tế Trung Quốc lớn nhưng không hiệu quả.

Nó tạo ra sản lượng khổng lồ nhưng với chi phí rất lớn. Các doanh nghiệp Trung Quốc phải chịu chi phí sản xuất cao, và dân số 1,4 tỷ người của Trung Quốc cũng t ạo ra áp lực phúc lợi xã hội đáng kể và gánh nặng an ninh cũng rất lớn. Ngược lại, kinh tế Hoa Kỳ cũng lớn nhưng rất hiệu quả. Các doanh nghiệp Mỹ là những doanh nghiệp có năng suất cao nhất
trên thế giới; và với số người ít hơn bốn lần so với Trung Quốc, Hoa Kỳ có chi phí phúc lợi xã hội và an ninh thấp hơn nhiều.

GDP và các thước đo tiêu chuẩn khác về sức mạnh kinh tế bỏ qua những chi phí nói trên và tạo ra ấn tượng sai lạc rằng Trung Quốc đang vượt Hoa Kỳ về mặt kinh tế. Trên thực tế, nền kinh tế Trung Quốc hầu như không theo kịp nổi tốc độ từ gánh nặng hỗ trợ thành lập các công ty thua lỗ và nuôi ăn cho dân, trả lương quân đội và cảnh sát, bảo vệ, và dọn dẹp cho 1/5 dân số nhân loại đã làm xói mòn kho của cải của Trung Quốc.

Khoảng cách giàu nghèo dai dẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc không phải là lý do cho sự cạnh tranh bá chủ như nhiều học giả tranh luận. Trung Quốc sẽ không đủ khả năng chi trả quy mô toàn diện thách thức đối với vị thế đứng đầu của Mỹ, vì vậy nguy cơ lớn nhất của một cuộc chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc chỉ có thể bắt nguồn bởi sự leo thang liều lĩnh từ một cuộc khủng hoảng địa phương ở Đông Á, không phải là một cuộc chuyển giao quyền lực toàn cầu. Thay vì cất bước chuẩn bị cho một cuộc Chiến tranh Lạnh mới, Hoa Kỳ nên tham gia nhiều hơn các bước thực dụng để củng cố sự cân bằng quyền lực ở Đông Á và phục hồi nền kinh tế Hoa Kỳ.

Khoảng cách thịnh vượng dai dẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng làm giảm sức thuyết phục cho lập luận của chính quyền Trump rằng Hoa Kỳ đang bị thua thiệt về kinh tế đối với Trung Quốc và do đó cần phải bỏ qua WTO, áp thuế đối với hàng hóa Trung Quốc, và tách nền kinh tế Hoa Kỳ khỏi Trung Quốc. Đúng là Trung Quốc gian lận một số các cam kết thương mại và tham gia vào hoạt động gián điệp tràn lan và trộm cắp tài sản trí tuệ, nhưng mặt khác WTO cũng chưa được trang bị đầy đủ để trừng phạt những hành động này một cách triệt để. Nhưng thách thức lớn nhất đối với người lao động Mỹ và các công ty xử dụng họ cũng có thể đến từ việc chính phủ Hoa Kỳ không thực hiện được đầu tư đủ lớn cho việc đào tạo vào việc làm (bao gồm cả tuyển dụngvà trợ cấp tiền lương), cơ sở hạ tầng, nghiên cứu và phát triển, và hỗ trợ cho các gia đình lao động. Đẩy mạnh đầu tư vào những khu vực này sẽ cho phép Hoa Kỳ bảo vệ công nhân và duy trì sự thống trị kinh tế của Hoa Kỳ mà không dùng đến chủ nghĩa bảo hộ tàn phá.

Kinh tế Trung Quốc khó vượt qua Mỹ vì nhiều lý do. Ảnh minh họa của FreePik

Sự thịnh vượng thực sự của các quốc gia

Trong nhiều thập kỷ, các nhà kinh tế đã đo lường sự giàu có quốc gia bằng tổng số chứ không phải ròng, chủ yếu dựa vào GDP (tổng sản lượng quốc gia) và các thành phần của nó, chẳng hạn như dòng chảy thương mại , dòng chảy tài chính và chi tiêu cho đầu tư.Tuy nhiên, các chỉ số này gộp lại chỉ tạo nên một ấn tượng sai lạc, nó giúp phóng đại sự giàu có của các nước đông dân, bởi vì họ chỉ tính lợi ích cho một lực lượng lao động lớn nhưng không tính đến chi phí phải trả cho thực tế có nhiều người ăn, thuê cảnh sát, bảo vệ và phục vụ dân. Có dân số lớn rõ ràng là một tài sản quan trọng cho nền kinh tế, nhưng không có nghĩa là quyết định sự giàu có. Luxembourg, chẳng hạn, sẽ chẳng là gì về mặt kinh tế, bởi vì nền kinh tế của nó chỉ là một điểm sáng nhỏ trên thế giới. Thị trường và lực lượng lao động của nó còn nhỏ hơn cả Home Depot.

Một dân số lớn không đảm bảo cho sự giàu có lớn, bởi vì con người vừa sản xuất vừa tiêu dùng tài nguyên. Một tỷ nông dân sẽ tạo ra sản lượng khổng lồ, nhưng họ cũng sẽ tiêu thụ hầu hết sản lượng làm ra và chỉ để lại ít của cải là thức ăn thừa.

Để trở thành siêu cường kinh tế, một quốc gia cần tích lũy một lượng lớn của cải — và để làm được điều đó thì nó phải lớn và hiệu quả. Nó không chỉ phải huy động nhiều đầu vào mà còn phải tạo ra sản lượng đáng kể trên một đơn vị đầu vào. Nói cách khác, nó phải tạo ra sản lượng cao với chi phí thấp.

Chi phí gì? Để bắt đầu cho sản xuất, có chi phí sản xuất, trong đó bao gồm nguyên liệu thô được tiêu thụ và tác động bên ngoài (đặc biệt là ô nhiễm) đi kèm với sản phẩm trong quá trình sản xuất. Ngoài ra, còn có các chi phí cho phúc lợi, chi phí mà một quốc gia phải trả để giữ cho người dân của họ không bị chết trên đường phố và bao gồm chi phí cho các mặt hàng cơ bản như thực phẩm, chăm sóc sức khỏe , giáo dục và an sinh xã hội. Cuối cùng, là các chi phí khác cho an ninh, bảo vệ, cái giá mà chính phủ phải trả cho cảnh sát và bảo vệ công dân.

Không cần phải nói, những chi phí này sẽ cộng lại thành một con số lớn. Trên thực tế, nó tiêu thụ hầu hết các nguồn lực của quốc gia. Vì vậy các nhà phân tích phải khấu trừ chúng để cung cấp số liệu đánh giá chính xác về sự giàu có của các quốc gia.

Thật không may, GDP và các thành phần được báo cáo và được phân tích bởi hầu hết các nhà kinh tế và nhà báo đã bỏ qua hết những chi phí nói trên.

Tiêu tiền luôn làm tăng GDP, ngay cả khi các quỹ lãng phí trên những điều vô nghĩa. Trên thực tế, phương pháp phổ biến nhất cách tính GDP được gọi là “phương pháp chi thu” và chỉ đơn giản là cộng tất cả các chi thu được thực hiện bởi chính phủ, người tiêu dùng và doanh nghiệp ở một quốc gia trong một khoản thời gian.Việc thuê công nhân luôn làm tăng GDP, ngay cả khi họ dành cả ngày để say xỉn trong phòng nghỉ. Đẩy mạnh sản xuất luôn làm tăng GDP, ngay cả khi hhàng hóa thối rữa trên kệ và hàng tấn chất thải độc hại được thải ra trong quá trình sản xuất. Trên thực tế, một quốc gia có thể tăng GDP của mình bằng cách đổ đầy chất thải độc hại trên đường phố và thuê hàng triệu công nhân và chi hàng tỷ đô la để làm sạch nó.

GDP không trừ đi chi phí phúc lợi. Tiền đã tiêu cho mọi người ăn được tính giống như tiền kiếm được khi bán siêu máy tính trên thị trường thế giới. Do đó, các nước đông dân tạo ra hoạt động kinh tế đáng kể đơn giản chỉ cần làm cho thấy họ tồn tại. Ngay cả một quốc gia bị mắc kẹt trong một địa ngục Malthusian (dân số tăng dốc đứng còn thực phẩm chỉ tăng ngang), trong đó tất cả đầu ra ngay lập tức bị nuốt chửng và tiêu chuẩn cuộc sống và tiến bộ công nghệ bị đình trệ, cũng sẽ công bố GDP lớn nếu nó có dân số lớn.

GDP cũng tính chi phí an ninh, bảo vệ như là sản lượng kinh tế. Phí tổn cho các tù lưu đày trị giá 100 triệu đô la cũng xuất hiện như tài khoản thu nhập của một trung tâm phát minh trị giá 100 triệu đô la. Vì thế, GDP không tính đủ các chi phí kinh tế của các bất ổn nội bộ và xung đột quốc tế.

Các bất ổn của cách tính GDP được minh họa bằng lịch sử của Trung Quốc và Nga. Hai quốc gia này có GDP lớn nhất ở Châu Á và Châu Âu trong thế kỉ 19. Nhưng sản xuất của họ bị đình trệ nghiêm trọng, chi phí phúc lợi và an ninh đã làm tê liệt nền kinh tế của họ và họ đã phải chịu bản án nặng nề và thất bại trước các đối thủ nhỏ hơn nhưng hiệu quả như Anh, Nhật Bản và Đức.

Các nhà phân tích có thể giải quyết những thiếu sót của GDP như thế nào?

Một cách lý tưởng, giải pháp sẽ là tạo một bảng tính toán cân đối cho mỗi quốc gia: tài sản sẽ ở một bên của sổ cái, nợ phải trả ở một bên khác, và của cải ròng sẽ được tính bằng cách trừ đi, cái sau trừ cái trước. Ví dụ: nếu một quốc gia cắt giảm rừng để xây văn phòng mới thì giá trị của rừng sẽ hiển thị như một khoản lỗ trên bảng cân đối kế toán của quốc gia. Nếu một quốc gia chi 50 tỷ đô la để áp đặt thiết quân luật tại một khu vực — hoặc trồng thực phẩm để nuôi sống người dân hoặc làm sạch thải độc hoặc đăng cai Thế vận hội — sau đó 50 tỷ đô la này phải được khấu trừ vào kho tài sản của nó. Tóm lại, sẽ không có gì là miễn phí hoàn toàn, “không có buổi ăn trưa miển phí”. Hạn chế rõ ràng đối với cách tiếp cận như vậy là biên soạn bảng tính toán cân đối cho mọi quốc gia là một công việc khó khăn. May mắn thay, Ngân hàng Thế giới và Liên hợp quốc gần đây đã nhận nhiệm vụ và công bố ước tính sơ bộ trữ lượng tài sản của các quốc gia trong ba lĩnh vực:

  1. Vốn sản xuất, trong đó bao gồm các mặt hàng nhân tạo như máy móc, công trình xây dựng, cơ sở hạ tầng, phần mềm.
  2. Vốn nhân lực, phản ánh trình độ học vấn, kỹ năng và tuổi thọ làm việc của dân số.
  3. Vốn tài nguyên thiên nhiên, là nguồn cung cấp nước, năng lượng của quốc gia, tài nguyên và đất canh tác.


Ngoài những ước tính của hai tổ chức quốc tế này, Credit Suisse cũng có công bố dữ liệu về kho tài sản tư nhân của các quốc gia. Xử dụng dữ liệu và phương pháp khác nhau, nhưng mỗi phương pháp dựa trên cùng cơ sở dữ liệu cho thấy một kết quả tương tự và đáng ngạc nhiên: Hoa kỳ giàu có hơn Trung Quốc gấp nhiều lần, và khoảng cách dường như đang tăng lên hàng nghìn tỷ đô la mỗi năm.

Kết quả này có đáng tin không? Hảy xem xét kỹ hơn từng quốc gia cho vốn sản xuất, vốn nhân lực và vốn tự nhiên. Nó cho thấy rằng những ước tính đã đánh giá thấp đáng kể sự thật giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc về khoảng cách giàu nghèo.

Vốn sản xuất

Trung Quốc có GDP lớn hơn tính theo sức mua tương đương và tốc độ tăng trưởng GDP nhanh hơn Hoa Kỳ, nhưng GDP tăng trưởng không nhất thiết là một dấu hiệu của sự giàu có mở rộng. Nếu một quốc gia cố gắng chi hàng tỷ đô la để xây dựng những cây cầu không biết để đi về đâu, GDP sẽ tăng nhưng kho của cải sẽ không đổi hoặc thậm chí suy giảm. Để tích lũy vốn sản xuất, một quốc gia cần phải tăng năng suất của nó, điều này có nghĩa là tăng sản lượng được tạo ra trên một đơn vị đầu vào, một số liệu chứng minh mà các nhà kinh tế gọi là “năng suất nhân tố tổng thể”. Chỉ đơn giản làm tăng đầu vào mà không làm tăng hiệu quả các đầu vào được xử dụng, sẽ dẫn đến lợi nhuận giảm dần và tăng đều gánh nặng nợ nần.

Nền kinh tế Trung Quốc có năng suất như thế nào? Đáng chú ý là gần như tất cả sự tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc kể từ năm 2007 có thể là do đầu vào: thuê nhân công và chi tiền. Tăng trưởng trong hoạt động sản xuất của Trung Quốc chẳng những không có gì đáng ngưỡng mộ mà còn hầu như không tồn tại. Ngược lại, năng suất để cải thiện nền kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng trong thập kỷ qua luôn chiếm khoảng 20%, giống như phần lớn của quá khứ 100 năm.

Ngay cả khi không đến thăm Trung Quốc, người ta vẫn có thể kết luận từ những con số về năng suất này cho thấy phần lớn GDP của Trung Quốc là ảo ảnh dựa trên đầu tư không hiệu quả. Chỉ đến khi người ta đến tham quan Trung Quốc mới thấy rằng mức độ lãng phí tài nguyên của nó mới trở nên rõ ràng.

Trung Quốc đã xây dựng hơn 50 “thành phố ma” —toàn bộ đô thị bao gồm các tòa nhà văn phòng trống, các chung cư phức hợp, các trung tâm mua sắm và trong một số trường hợp có cả sân bay. Từ ngành này sang ngành khác, từ tinh chế đến tàu thủy đến nhôm, bức tranh giống nhau — cung vượt xa cầu — và vẫn đang tiếp tục mở rộng. Chỉ lấy một ví dụ, công suất không xử dụng trong luyện thép của Trung Quốc vượt quá tổng cộng năng lực sản xuất thép của Nhật Bản, Hoa Kỳ, và Đức. Khu vực tư nhân của Trung Quốc tương đối hiệu quả, nhưng nó lại dẫn đến một khu vực chính phủ phình to tiêu hủy gần như phần lớn giá trị do nó tạo ra. Các công ty tư nhân tạo ra khoảng 2/3 sự giàu có của Trung Quốc và ước tính khoảng 80% các đổi mới của nước này, nhưng chính phủ Trung Quốc ưu tiên kiểm soát chính trị đối với hiệu quả kinh tế và do đó hướng hết 80% các khoản vay và trợ cấp cho các doanh nghiệp chính phủ. Do đó, các công ty “xác chết” chính phủ được hỗ trợ trong khi các công ty tư nhân bị thiếu vốn.

Tất cả như đã nói, hơn một phần ba năng lực công nghiệp của Trung Quốc biến thành chất thải và gần 2/3 cơ sở hạ tầng của Trung Quốc là các dự án tốn nhiều chi phí xây dựng hơn là chúng sẽ tạo ra lợi nhuận kinh tế. Tổng thiệt hại do chất thải này khá khó để tính toán, nhưng chính phủ Trung Quốc ước tính rằng nó đã phung phí gần 7 nghìn tỷ đô la vào “đầu tư không hiệu quả” giữa 2009 và 2014.

Các quan chức Trung Quốc hy vọng rằng việc khởi đầu chiến lược “ Vành đai và Con đường “của họ dự kiến ​​sẽ đầu tư 1 nghìn tỷ đô la vào cơ sở hạ tầng cho các dự án ở 69 quốc gia giữa Trung Quốc và Châu Âu, với mong đợi có thể tiêu thụ hết công suất dư thừa và truyền bá “quyền lực mềm” của Trung Quốc ở vùng Âu-Á. Tuy nhiên, không có kết quả nào thực sự được đảm bảo. Nhiều hơn một nửa số quốc gia trong chương trình này có xếp hạng tín dụng rất thấp, dưới khả năng chi trả cho các dự án đầu tư và ước tính của chính phủ Trung Quốc rằng khoảng một nửa khoản vay mà nó đã gia hạn sẽ không bao giờ được trả lại. Vì vậy, khi các khoản vay đó đến hạn vào thập kỷ tới, Trung Quốc hoặc sẽ phải xóa hàng trăm tỷ đô la trong tổn thất hoặc tịch thu tài sản ở các quốc gia đối tác, như gần đây đã làm ở Sri Lanka — hầu như không phải là một cách tuyệt vời để kết bạn hoặc kiếm tiền.

Ngoài việc kém năng suất hơn Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng chịu gánh nặng an ninh và phúc lợi xã hội lớn hơn do dân số khổng lồ của nó. Ví dụ, Trung Quốc chi tiêu khoảng1 nghìn tỷ đô la mỗi năm cho thực phẩm, cao hơn 30% so với Hoa Kỳ. Trung Quốc có ít nhất 10 nghìn tỷ đô la chưa thanh toán với nợ hưu trí, khoản thiếu hụt ấy lớn hơn 2,5 nghìn tỷ đô la ở Hoa Kỳ. Trung Quốc chi thêm ít nhất 35 tỷ đô la hơn Hoa Kỳ mỗi năm về an ninh nội bộ, và khoảng cách thực sự có thể lớn hơn nhiều do phần lớn ở Trung Quốc cảnh sát chính phủ được tài trợ ngoài sổ sách. Mặt khác, Hoa Kỳ vượt trội hơn Trung Quốc về mặt quân sự khoảng 350 tỷ đô la mỗi năm, nhưng Hoa Kỳ tham gia quân sự vào hầu hết các khu vực theo sự lựa chọn và có thể thay đổi hoặc triệt tiêu lực lượng của nó mà không gây nguy hiểm cho sự sống còn của Hoa Kỳ. Ngược lại, Trung Quốc phải duy trì một đội quân khổng lồ để canh gác nội địa vì nó phải chịu gấp đôi các bất ổn so với Hoa Kỳ , vì Trung Quốc có chung biên giới biển hoặc đất liền với 19 quốc gia, 5 trong số đó đã tham chiến chống lại Trung Quốc trong thế kỷ trước, và mười trong số đó vẫn còn có tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc.

Bất ổn ở Trung Quốc bắt nguồn từ nhiều nguồn. Ở Tây Tạng và Tân Cương, chiếm gần một phần ba diện tích đất đai của Trung Quốc, các nhóm dân tộc không phải gốc Hán ở đây đã có những hành động chống lại chính phủ trung ương. Tại Hồng Kông, cư dân duy trì một hệ thống chính trị riêng biệt và đã tổ chức phản đối những nỗ lực của Bắc Kinh nhằm làm loãng nền chính trị của họ đối với quyền tự trị. Trên khắp Trung Quốc, công dân chất chứa nhiều loại bất bình — đặc biệt là ô nhiễm, tham nhũng và việc chính quyền tịch thu đất đai của họ — các cuộc biểu tình có giai đoạn mà đôi khi biến thành bạo lực. Trung Quốc đang chiến đấu chống khủng bố ở biên giới với các quốc gia Trung Á, nơi những người ly khai Duy Ngô Nhĩ đã thiết lập các nơi trú ẩn an toàn; và biên giới của Trung Quốc với Ấn Độ, Việt Nam, và Triều Tiên vẫn được quân sự hóa nặng nề.

Kết quả đáng ngạc nhiên của tất cả những gánh nặng này, cộng với đầu tư lãng phí được nêu ở trên, đã làm mức nợ của Trung Quốc tăng, từ 100% GDP trong những năm 1990 đã tăng lên hơn 300% vào năm 2019, ở mức 40 nghìn tỷ đô la và vẫn tiếp tục tăng. Nợ của Trung Quốc không chỉ là khoản nợ lớn nhất từng được ghi nhận bởi quốc gia đang phá triển, mà nó còn tăng nhanh hơn bất kỳ quốc gia nào khác, về kích thước tuyệt đối tăng gấp 5 lần giữa năm 2007 và 2019.

Nợ của Mỹ cũng rất lớn, nhưng nó đã ổn định ở mức thấp hơn của Trung Quốc và ít gánh nặng hơn. Với mức thu nhập bình quân đầu người gấp sáu lần so với Trung Quốc, Hoa Kỳ không chỉ có thêm của cải thặng dư để trả nợ, mà còn được hưởng lãi suất thấp hơn. Thực tế, vì đồng đô la là đồng tiền của tiền tệ dự trữ thế giới nên nó giúp làm giảm thêm chi phí cho việc vay nợ của Hoa Kỳ – một “đặc quyền tiền lời cực rẻ ” giúp tiết kiệm cho các con nợ của Hoa Kỳ một ước tính 100 tỷ đô la tiền trả lãi hàng năm.

Nếu không có những đặc quyền này, hộ gia đình và doanh nghiệp của Trung Quốc, những người đi vay rất bị ảnh hưởng bởi lãi suất tăng làm tiêu thụ hết 20% GDP của Trung Quốc. Khoảng một phần tư các công ty Trung Quốc, con số lên đến hàng nghìn công ty lớn nhất đã mắc nợ mà tiền lời phải trả nhiều hơn lợi nhuận kiếm được; và 45% tất cả các khoản vay mới ở Trung Quốc có mục tiêu là được xử dụng để trả lãi cho các khoản vay cũ, một phương thức mà các nhà phân tích gọi “tài chính Ponzi.” Xóa bỏ các khoản nợ xấu này sẽ khiến Trung Quốc mất khoảng 1,5 nghìn tỷ USD đến 10 nghìn tỷ USD, con số thứ hai có giá trị xấp xỉ GDP của Trung Quốc. Đặt con số đó trong bối cảnh tương tự, Hoa Kỳ chỉ chi tiêu 8% GDP của nó để xóa nợ xấu sau khủng hoảng tài chính năm 2008.

Trung Quốc đang có 3 nghìn tỷ đô la dự trữ ngoại hối, nhưng đây không phải là một kho báu mà Trung Quốc có thể dùng để giải quyết các khoản nợ của nó. Số lượng này ít hơn một phần mười tổng số nợ của Trung Quốc. Quan trọng hơn, bán giảm giá dự trữ ngoại hối sẽ làm cho giá trị đồng tiền của Trung Quốc tăng vọt, đè bẹp lĩnh vực xuất khẩu của Trung Quốc.
Cuối cùng, cách duy nhất để Trung Quốc giải quyết nợ nần mà không tạo ra vấn đề cắt đứt chi tiêu xã hội là tăng năng suất, do đó phải đòi hỏi sự đổi mới. Các Chính phủ Trung Quốc hiểu rõ điều này. Kể từ năm 2007, họ đã tăng gấp ba lần chi tiêu cho nghiên cứu & phát triển , tuyển dụng nhiều nhà khoa học hơn và kỹ sư hơn bất kỳ quốc gia nào khác và cũng như tăng cường nhiều nhất cho chiến dịch gián điệp công ty rộng lớn trong lịch sử.
Tuy nhiên, những động thái này vẫn chưa biến Trung Quốc thành một cường quốc đổi mới dựa vào phát minh. Trung Quốc chỉ sản xuất một nửa đầu ra công nghệ và có một nửa các công trình nghiên cứu khoa học được trích dẫn nhiều như Hoa Kỳ, nắm giữ bằng sáng chế quốc tế ít hơn năm lần, và trả nhiều tiền bản quyền cho công nghệ hơn số tiền mà họ thu vào. Hoa Kỳ dẫn đầu đặc biệt rõ rệt trong “các ngành công nghiệp của tương lai”trong đó bao gồm các ngành công nghiệp thông tin khai thác dữ liệu lớn; các ngành công nghiệp máy thiết kế các công cụ tiên tiến và rô bốt; ngành y tế chế tạo ra thuốc mới và công nghệ chăm sóc sức khỏe; và các ngành năng lượng sản xuất các sản phẩm thay thế cho nhiên liệu hóa thạch.

Nhưng thành thật mà nói, Trung Quốc cũng đã phát triển được các túi kinh tế xuất sắc. Trung Quốc dẫn đầu thế giới về một số ngành sản xuất công nghiệp — đặc biệt là thiết bị gia dụng, dệt may, thép, các tấm pin mặt trời và máy bay không người lái đơn giản. Nhờ vào dân số khổng lồ của nó – người lao động nghèo và trợ cấp hào phóng của chính phủ nó có thể hoạt động như “công xưởng của thế giới”, sản xuất hàng hóa với giá thấp. Trung Quốc cũng có thị trường thương mại điện tử lớn nhất thế giới và thanh toán di động với thị phần đáng kể trên thị trường toàn cầu, cũng như phần mềm Internet và thiết bị truyền thông — chủ yếu là bởi vì chính phủ Trung Quốc không cho phép các công ty Internet nước ngoài hoạt động và dành ưu tiên cho các công ty viễn thông Trung Quốc, do đó đã mang lại cho các công ty Trung Quốc, chẳng hạn như Alibaba, Baidu và Tencent, thị trường cố định của một tỷ người. Cuối cùng, Trung Quốc đang tiến hành các nghiên cứu tiên tiến trong lĩnh vực truyền thông lượng tử và siêu máy tính — hai lĩnh vực mà Trung Quốc vượt xa Hoa Kỳ trong nghiên cứu & phát triển – và đang trở thành quốc gia dẫn đầu thế giới về một số ngành thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI), bao gồm thanh toán kỹ thuật số và nhận dạng giọng nói và khuôn mặt- một phần là do dân số khổng lồ của Trung Quốc tạo ra dữ liệu dồi dào, đầu vào quan trọng cho các ngành này.

Tuy nhiên, trong hầu hết các ngành công nghệ cao, có nghĩa là những liên quan đến ứng dụng thương mại của nghiên cứu khoa học (chẳng hạn như dược phẩm, công nghệ sinh học và chất bán dẫn) hoặc kỹ thuật và tích hợp các bộ phận phức tạp (chẳng hạn như hàng không, thiết bị y tế và phần mềm hệ thống), nói chung Trung Quốc chiếm thị phần nhỏ trên thị trường toàn cầu so với Hoa Kỳ.

Trung Quốc là nước đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực chuỗi cung ứng công nghệ cao, nhưng các công ty Trung Quốc lại chủ yếu tập trung vào công nghệ thấp, các hoạt động, chẳng hạn như sản xuất và cung cấp linh kiện, trong khi các công ty Mỹ có xu hướng tập trung vào thiết kế sản phẩm, phát triển và xây dựng thương hiệu – các hoạt động mang lại lợi nhuận cao và làm tăng kiến ​​thức đặc quyền. Khi sản xuất ngày càng trở nên tự động hóa với sự phát triển của máy in 3D và trí tuệ nhân tạo cũng như chi phí lao động của Trung Quốc đã tăng, các công ty Mỹ đã bắt đầu “hồi hương” và thiết lập các nhà máy sản xuất ở Hoa Kỳ để tận dụng giá năng lượng thấp, lao động có kỹ năng cao và tiếp cận trực tiếp với thị trường tiêu dùng lớn nhất thế giới. Vì những lý do đó, Deloitte và Boston Consulting Group đều cho rằng Hoa Kỳ sẽ là nước lớn nhất thế giới cạnh tranh với Trung Quốc về chi phí sản xuất.

Nhà cầm quyền Trung Quốc đã ra lệnh cho các nhà khoa học của họ làm cho Trung Quốc dẫn đầu thế giới về khoa học và công nghệ vào năm 2050. Nhưng thay vì thúc đẩy phát minh , nhiệm vụ gần như bắt buộc này đã làm tăng lên một không khí công bố hoặc diệt vong trong đó các nhà khoa học, dưới rất nhiều áp lực để sản xuất, có khuynh hướng tạo ra kết quả giả mạo để tranh giành các quỹ cung cấp tiền.Trung Quốc hiện dẫn đầu thế giới về việc bị rút lại nghiên cứu khoa học do gian lận, một phần ba các nhà khoa học Trung Quốc đã thừa nhận ăn cắp ý tưởng hoặc làm sai lệch kết quả (so với 2%của các nhà khoa học Hoa Kỳ), và gần hai phần ba kinh phí nghiên cứu và phát triển của Trung Quốc đã bị mất do tham nhũng. Văn hóa gian lận này xuyên khắp nền kinh tế Trung Quốc.

Hàng chục nghiên cứu đã chỉ ra rằng các quan chức Trung Quốc thổi phồng một cách có hệ thống các con số sản lượng kinh tế của Trung Quốc; và các nhà lãnh đạo hàng đầu của Trung Quốc, bao gồm cả thủ tướng và người đứng đầu của Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc, đã thừa nhận là điều đó xảy ra nhiều. Nhiều nhà kinh tế tin rằng nền kinh tế thực sự của Trung Quốc có tỷ lệ tăng trưởng chỉ gần bằng một nửa tỷ lệ do chính phủ niêm yết, và một số nhà phân tích cho rằng nền kinh tế Trung Quốc đã không phát triển kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.


Vốn nhân lực

Theo Ngân hàng Thế giới và Liên hợp quốc, vốn con người – bao gồm kiến ​​thức, kỹ năng và lực lượng dân số lao động trong một quốc gia— chiếm hơn một nửa của cải của hầu hết quốc gia. Cả hai tổ chức đều ước tính rằng nguồn nhân lực của Hoa Kỳ lớn hơn Trung Quốc vài lần. Trung Quốc có dân số gấp bốn lần Hoa Kỳ, nhưng công nhân Mỹ trung bình tạo ra sản lượng gấp bảy lần công nhân trung bình Trung Quốc.

Một lý do khác là người Mỹ được giáo dục tốt hơn, có số năm đi học trung bình nhiều gấp đôi so với công dân Trung Quốc.Trong khi giáo dục phổ thông miễn phí đến hết trung học ở Hoa Kỳ, chính phủ Trung Quốc chỉ miễn phí ở trường tiểu học và mấy năm đầu trung học. Để học trường trung học phổ thông, gia đình phải trả học phí và các chi phí khác, và những chi phí này là một trong những mức cao nhất trên thế giới. Nhiều học sinh bỏ học để tránh các khoản phí này. Trên thực tế, khoảng 75% dân số trong độ tuổi lao động của Trung Quốc không hoàn tất trung học và khoảng một phần ba số trẻ em hiện đang bắt đầu gia nhập lực lượng lao động có chỉ số IQ dưới 90 và hầu như không biết chữ hoặc đếm số.

Trung Quốc đang cố gắng thu hẹp khoảng cách về trình độ học vấn bằng cách mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục đại học. Kể từ năm 2000, Trung Quốc đã tăng gấp đôi số trường đại học và tăng tỷ lệ nhập học đại học lên (tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học ghi danh vào đại học) từ 8% lên 30% . Tuy nhiên, chỉ 10% lực lượng lao động của Trung Quốc có bằng đại học, so với 44% lực lượng lao động Hoa Kỳ và chất lượng của các trường đại học đã không bắt kịp với sự gia tăng về số lượng.

Nhiều sinh viên đại học Trung Quốc mô tả trường học của họ là “nhà máy cấp bằng tốt nghiệp”, nơi tỷ lệ học sinh-giáo viên cao gấp đôi mức trung bình so với các trường đại học Hoa Kỳ, gian lận tràn lan, sinh viên phải tốn một phần tư thời gian của họ để học “tư tưởng Mao Trạch Đông” và sinh viên lẫn giáo sư bị từ chối truy cập vào các nguồn thông tin cơ bản, chẳng hạn như Google Scholar và một số kho tạp chí.

Vì những lý do này, Trung Quốc vẫn chỉ có bốn trường đại học được xếp vào số 100 trường đại học hàng đầu thế giới và chỉ có 20 trong số 200 trường hàng đầu thế giới , mặc dù đã chi hàng trăm tỷ đô la để cố gắng tạo ra một “nhóm đại học ưu hạng”, hay một loại “Ivy League” Trung Quốc. Ngược lại, Hoa Kỳ chiếm 45 trong số 100 trường đại học hàng đầu và 66 trong số 200. Chi tiết các nghiên cứu cho thấy nhiều sinh viên tốt nghiệp các trường đại học Trung Quốc thiếu các kỹ năng đọc và viết cơ bản và ít hơn 10% sinh viên tốt nghiệp ngành kỹ thuật Trung Quốc được coi là phù hợp để làm việc cho một công ty đa quốc nước ngoài.

Theo một số khảo sát của các CEO, Hoa Kỳ có “khoảng cách kỹ năng” với khoảng bốn triệu công nhân, được cho là bởi vì quá nhiều sinh viên Mỹ chuyên về các môn học như lịch sử, nghệ thuật và triết học thay vì kinh doanh, kỹ thuật, hoặc khoa học máy tính. Tuy nhiên, có những lý do chính đáng để nghi ngờ những phát hiện này: thiếu bốn triệu vị trí tuyển dụng hầu như là bình thường trong một nền kinh tế có quy mô như nước Mỹ; số ghi danh đại học trong các chương trình khoa học, kỹ thuật và kinh doanh thực sự đang ở mức cao nhất hiện nay; môn nghệ thuật tự do khá hữu ích cho việc làm trong nền kinh tế thông tin dựa trên sự sáng tạo và tư duy phản biện; và các nghiên cứu cẩn thận cho thấy rằng các CEO có thể cường điệu hóa ý tưởng về lỗ hổng kỹ năng để khiến chính phủ trả tiền cho các chương trình đào tạo việc làm mà các công ty đáng lý phải tự trả tiền.

Bất kể ra sao, nếu các cuộc khảo sát của CEO được xem là đúng về vốn con người, thì Trung Quốc thực sự đang gặp khó khăn, bởi vì các cuộc khảo sát như vậy cho thấy rằng Trung Quốc có khoảng cách về kỹ năng là 24 triệu công nhân và được dự báo có khoảng cách kỹ năng là 40 triệu công nhân vào năm 2030. Trung Quốc cũng mất 400.000 người có trình độ học vấn cao nhất hàng năm đi lao động sang nước ngoài theo giá trị ròng, bao gồm có hàng nghìn nhà khoa học, kỹ sư và “nhà phát minh” (những người đã ghi danh ít nhất một bằng sáng chế) . Hoa Kỳ, ngược lại, hàng năm có một triệu lao động đến từ tất cả các nước khác , bao gồm khoảng 20.000 nhà phát minh và 15.000 các nhà khoa học và kỹ sư, 5.000 người trong số họ đến từ Trung Quốc.

Lực lượng lao động Hoa Kỳ không chỉ được giáo dục tốt hơn mà còn lành mạnh hơn của Trung Quốc. Trung Quốc mất khoảng 40% sản lượng trong năm tính trên bình quân đầu người do bịnh tật. Một phần của lý do là vì việc chăm sóc sức khỏe của Trung Quốc quá tệ đối với người dân trung bình ngoại trừ giới thượng lưu. Phí bảo hiểm theo chương trình chăm sóc sức khỏe quốc gia của Trung Quốc trung bình chỉ $ 24, một số tiền không đủ để chi trả một khoản cơ bản kiểm tra, đừng nói chi đến một thủ tục y khoa lớn. Kết quả là, một phần ba công dân Trung Quốc dù rất cần đã quyết định không đến bịnh viện vì chi phí họ không kham nổi và 80% cư dân nông thôn được chẩn đoán mắc bịnh hiểm nghèo phải chết tại nhà. Hoa Kỳ là một trong số các quốc gia có hệ thống chăm sóc sức khỏe kém hiệu quả và đắt tiền nhất trên thế giới, chi 3 nghìn tỷ đô la mỗi năm so với 1 nghìn tỷ đô la của Trung Quốc, nhưng nó cung cấp khả năng tiếp cận nhiều hơn và chăm sóc tốt hơn, dẫn đến sức khỏe và năng suất cao hơn nhiều.
Ngoài việc nhận được sự chăm sóc tốt hơn, người Mỹ ít bị ảnh hưởng bởi môi trường độc hại hơn công dân Trung Quốc. Ô nhiễm không khí ở Trung Quốc tồi tệ gấp bảy lần so với Hoa Kỳ — hít thở không khí ở các thành phố lớn của Trung Quốc tương đương với việc hút một gói thuốc lá mỗi ngày — và giết chết 1,6 triệu công dân Trung Quốc mỗi năm so với 200.000 người Mỹ. Trong khi gần như tất cả người dân Mỹ tận hưởng nước sạch từ vòi nước , 80% nước ngầm của Trung Quốc bị ô nhiễm. Hàng năm, 190 triệu người Trung Quốc bị ốm và 60.000 người chết vì ô nhiễm nước.Tất cả như đã nói, ô nhiễm không khí và nước ước tính khiến Trung Quốc thiệt hại 7,5%GDP hàng năm — khoảng 1 nghìn tỷ đô la — bị mất trong sản xuất – và chi phí y tế.

Người Mỹ nói chung cũng có những thói quen lành mạnh hơn công dân Trung Quốc. Chẳng hạn, tỷ lệ hút thuốc của Trung Quốc là 50% cao hơn của Mỹ và dự kiến ​​sẽ cao hơn 70% vào năm 2025; và Trung Quốc hiện có tỷ lệ mắc bịnh tiểu đường và tiền tiểu đường cao hơn Hoa Kỳ, chủ yếu vì kém dinh dưỡng . Người Mỹ tiêu thụ rượu nhiều hơn 50% trên đầu người so với công dân Trung Quốc và có nguy cơ chết vì dùng ma túy quá liều, nhưng cái giá phải trả cho việc lạm dụng và gây thiệt hại nhân mạng như thế của Mỹ chưa sánh bằng với thiệt hại của Trung Quốc . Ví dụ: Hoa Kỳ mất 6 năm tuổi sản xuất trên 1000 đầu người do hậu quả của việc lạm dụng, trong khi Trung Quốc phải mất đến 16 năm tuổi sản xuất cho người chết do bịnh tim và thêm 8 năm tuổi sản xuất khác do ung thư trên 1000 đầu người.

Chính phủ Trung Quốc đang nỗ lực để giải quyết nhữngvấn đề sức khỏe, nhưng khoảng cách sức khỏe giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ còn cách xa hơn trong những năm tới vì lý do: Trung Quốc đang già đi nhanh chóng hơn bất kỳ xã hội nào trong lịch sử. Số lượng người Trung Quốc từ 65 tuổi trở lên sẽ tăng gấp ba lần vào giữa thế kỷ, từ 130 triệu vào năm 2015 lên 400 triệu vào năm 2050. Trong khi đó lực lượng lao động của Trung Quốc sẽ giảm khoảng 212 triệu – khoảng một phần ba tổng số hiện tại. Tại thời điểm đó, người cao tuổi sẽ chiếm hơn 30% dân số Trung Quốc so với chỉ 20% dân số Hoa Kỳ. Do hầu hết các vấn đề sức khỏe trở nên tồi tệ hơn theo tuổi tác, sự lão hóa của xã hội Trung Quốc về cơ bản chắc chắn sẽ gây nên sự suy giảm cho năng suất của lực lượng lao động Trung Quốc và sự xói mòn thêm nguồn vốn nhân lực của Trung Quốc.

Một lý do cuối cùng khiến Hoa Kỳ có một lượng lớn vốn nhân lực hơn Trung Quốc là Hoa Kỳ có thể nuôi dân số của nó chỉ với 1% lực lượng lao động trong nông nghiệp trong khi Trung Quốc dành 30% lực lượng lao động cho nông nghiệp—và vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu lương thực để nuôi sống dân số. Trung Quốc phải gánh chịu một chi phí cực lớn khi còn quá nhiều công nhân làm việc trong nông nghiệp — năng suất nông nghiệp của Trung Quốc chỉ bằng một phần tư so với phần còn lại của nền kinh tế, và hầu hết sản lượng nông nghiệp của Trung Quốc được tiêu thụ ngay lập tức và do đó không làm tăng thêm khối tài sản của Trung Quốc.

Về cốt lõi, phát triển kinh tế là một quá trình cấu trúc chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp; quốc gia càng có ít nông dân xử dụng nuôi sống mình, thì càng có thể huy động nhiều lao động sản xuất của cải trong các ngành công nghiệp hiện đại. Hoa Kỳ có 99% lực lượng lao động của nó có khả năng sẵn sàng để tạo ra của cải trong khi Trung Quốc chỉ có 70%.

Vốn tự nhiên

Các yếu tố chính của vốn tự nhiên là nước, năng lượng, tài nguyên và đất canh tác, tất cả đều cần thiết để duy trì cuộc sống và cung cấp năng lượng cho nông nghiệp và công nghiệp. Tổng số lượng vốn tự nhiên của Hoa Kỳ lớn hơn Trung Quốc không chỉ vì quy mô tài nguyên của Hoa Kỳ, mà còn vì Hoa Kỳ xử dụng tài nguyên của mình hiệu quả hơn và cần ít người hơn để hỗ trợ cho nó.

Hoa Kỳ có thêm 10% nước ngọt tái tạo so với Trung Quốc nói chung và khoảng cách thực tế lớn hơn nhiều, bởi vì một nửa lượng nước sông và 90% nước ngầm của Trung Quốc không thể dùng để uống và 25% nước sông của Trung Quốc và 60%nước ngầm của họ bị ô nhiễm đến mức chính phủ Trung Quốc cho rằng nó “không thích hợp để tiếp xúc với con người” và thậm chí không xử dụng được cho nông nghiệp hoặc công nghiệp.

Lượng nước bình quân đầu người của Trung Quốc ít hơn một phần tư của Hoa Kỳ và ít hơn một phần ba mức trung bình của thế giới và khoảng một phần ba các tỉnh và 2/3 số thành phố lớn của Trung Quốc bị khan hiếm nước tột độ. Chẳng hạn, Bắc Kinh có khoảng cùng một lượng nước cho mỗi người (145 mét khối) như Ả Rập Xê Út một quốc gia sa mạc.
Hoa Kỳ tạo ra hơn ba lần của cải từ mỗi gallon nước so với Trung Quốc. Trong nông nghiệp- chỉ 45% lượng nước Trung Quốc rút ra thực sự được đưa tới nông trường cho cây trồng và trong ngành công nghiệp chỉ có 40% lượng nước được tái chế, như so với 85% ở Hoa Kỳ. Địa lý cũng làm giảm hiệu quả xử dụng nước của Trung Quốc: hơn 80%nước của Trung Quốc nằm ở phía nam, nhưng một nửa dân số và hai phần ba số trang trại nằm ở miền Bắc, vì vậy Trung Quốc đang chi hàng chục tỷ đô la để chuyển nước từ sông Dương Tử ở phía nam đến sông Hoàng Hà ở phía bắc. Đối phó với tình trạng khan hiếm nước đã khiến Trung Quốc tiêu tốn khoảng 140 tỷ USD hằng năm trong ngân sách của chính phủ và năng suất bị giảm trong khi Hoa Kỳ chỉ tốn 12 tỷ đô la.

Hoa Kỳ có lượng dầu và khí đốt nhiều gấp ba lần Trung Quốc và gấp đôi về than đá. Trung Quốc trợ cấp nhiều chocác ngành công nghiệp năng lượng tái tạo và năng lượng hạt nhân, nhưng cả hai kết hợp lại vẫn chỉ chiếm dưới 5% năng lượng xử dụng của Trung Quốc so với 12% của Hoa Kỳ.

Trung Quốc có trữ lượng dầu đá phiến và khí đốt tự nhiên, nhưng họ không thể chạm vào chúng và có thể không bao giờ làm được. Một lý do là trầm tích đá phiến Trung quốc được lập nên bởi các hồ thời tiền sử và hệ quả là có các lớp đá rất cứng nằm đè bên trên và ít có khả năng chịu nứt vỡ thủy lực so với đá phiến gốc biển ở Bắc Mỹ. Một lý do khác là Trung Quốc thiếu nước cần thiết cho quá trình khai thác dùng kỹ thuật nứt vỡ thủy lực. Mỗi giếng dầu khí đá phiến sét yêu cầu cần 15,000 tấn nước mỗi năm để chạy, và Trung Quốc sẽ cần khoan hàng ngàn giếng mỗi năm để khởi động một ngành công nghiệp thành công.

Trung Quốc không có nơi nào có lượng nước gần các lưu vực đá phiến sét chính của nó, tập trung ở Cát Lâm và Liêu Ninh, hai tỉnh khô hạn nhất của Trung Quốc.

Hoa Kỳ tạo ra của cải nhiều hơn khoảng 40% trên một đơn vị năng lượng so với Trung Quốc. Hiệu quả năng lượng của Trung Quốc đã tăng đều đặn kể từ những năm 1970, nhưng nó vẫn bị tụt lại phía sau Hoa Kỳ vì nền kinh tế của Trung Quốc bị chi phối quá lớn bởi các ngành công nghiệp nặng và các nhà máy sản xuất, các ngành công nghiệp này tiêu thụ một lượng lớn năng lượng để tạo ra các sản phẩm có lợi nhuận thấp. Nhược điểm đó khiến Trung Quốc bị cạn kiệt 400 tỷ USD tài nguyên năng lượng mỗi năm và còn phải trả cho nước ngoài 500 tỷ đô la năng lượng nhập khẩu trong khi sự cạn kiệt hàng năm của Hoa Kỳ và chi phí nhập khẩu ròng tương ứng với 140 tỷ USD và 120 tỷ USD.

Sự khác biệt về vận may năng lượng này có khả năng mở rộng trong nhiều thập kỷ tới, bởi vì Hoa Kỳ đã trở thành một nước xuất khẩu năng lượng trong khi Trung Quốc đã trở thành nước lớn nhất thế giới nhập khẩu năng lượng ròng, sẽ phải nhập khẩu 80% dầu và 45% khí tự nhiên cho như cầu của nó.

Cuối cùng, Hoa Kỳ có 45% diện tích đất canh tác nhiều hơn Trung Quốc, và kích thước thực sự của khoảng cách có lẽ sẽ còn lớn hơn nhiều vì phần lớn đất nông nghiệp của Trung Quốc quá khô cằn hoặc quá bị ô nhiễm hoặc cả hai để hỗ trợ nông nghiệp. Theo một nghiên cứu gần đây của chính phủ Trung Quốc, ô nhiễm nước đã phá hủy gần 20% diện tích đất canh tác của Trung Quốc, một khu vực có kích thước bằng nước Bỉ. Thêm vào đó một triệu dặm vuông đất nông nghiệp của Trung Quốc đã trở thành sa mạc, buộc phải tái định cư hơn 24.000 ngôi làng và rìa sa mạc Gobi đã tăng thêm 150 dặm về hướng Bắc Kinh.

Nông dân Mỹ sản xuất lương thực nhiều hơn 30% mỗi héc ta so với nông dân Trung Quốc. Một phần là do nông nghiệp Hoa Kỳ có đất canh tác tốt hơn và có nhiều nước hơn. Một lý do khác là hầu hết nông dân Trung Quốc là nông dân nghèo, khoảng 40% trong số họ thiếu thiết bị cơ giới dưới bất kỳ hình thức nào và họ phải cày và gieo hạt trên ruộng bằng động vật hoặc dùng cơ bắp riêng.

Tiêu thụ thực phẩm của Trung Quốc đang vượt xa khả năng nông nghiệp sinh ra từ đất đai của nó. Năm 2008, Trung Quốc trở thành nước nhập khẩu ròng ngũ cốc, phá vỡ chính sách truyền thống về tự cung tự cấp, và vào năm 2011, Trung Quốc đã trở thành nhà nhập khẩu lớn nhất thế giới về nông sản. Kể từ đó, Trung Quốc đã tăng phụ thuộc vào nhập khẩu thực phẩm, đặc biệt là từ Hoa Kỳ, nhà cung cấp nông sản hàng đầu cho Trung Quốc và Hoa Kỳ kiếm được khoảng 25 tỷ đô la mỗi năm từ việc bán thực phẩm cho Trung Quốc.

Trung Quốc đang cố gắng giành lại khả năng tự cung tự cấp lương thực bằng cách lập lại chế độ bao cấp cho nông dân. Tuy nhiên, vì vậy Trung Quốc nhanh chóng làm cạn kiệt nguồn cung cấp đất nông nghiệp; theo một phân tích của Tân Hoa xã, hơn 40% diện tích đất trồng trọt của Trung Quốc đang bị “thoái hóa” do bị xử dụng quá mức, bao gồm giảm độ phì nhiêu, xói mòn, thay đổi độ chua, ô nhiễm, hoặc tất cả những điều trên.

Kết luận

Trung Quốc thua xa Hoa Kỳ về kinh tế; và khoảng cách dường như ngày càng lớn hơn, trong khi đó một số các học giả, chuyên gia và một phần công chúng lại tin rằng Trung Quốc sẽ trở thành đầu tàu kinh tế và sắp sửa vượt qua Mỹ để nắm quyền lực thống trị thế giới. Điều này không chỉ sai, mà còn nguy hiểm. Một điều nguy hiểm là các nhà hoạch định chính sách có thể tin rằng Hoa Kỳ và Trung Quốc chấp nhận tiến tới chiến tranh vì họ bị nhốt trong “cạm bẫy Thucydides”(*), theo đó một thế lực đang trỗi dậy thách thức thế lực đang mạnh nhất để giành quyền bá chủ. Quan niệm sai lầm này đã phổ biến ở cả hai phía và đã tạo ra một vòng xoáy của sự thù địch. Được khuyến khích bởi sự cường điệu toàn cầu làm gia tăng thêm hiểm họa này, Trung Quốc đã bắt tay vào việc mở rộng lãnh thổ lớn nhất của bất kỳ quốc gia nào kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, xác nhận quyền sở hữu khoảng 80% của Biển Đông và Biển Hoa Đông và tài nguyên đổ mạnh vào lực lượng không quân, hải quân và tên lửa. Hoa Kỳ đáp trả bằng cách gán cho Trung Quốc là đối thủ, khiến chính phủ cắt giảm ngân sách cho ngoại giao và tăng cường quỹ cho quân đội, tăng cường lực lượng vào các tranh chấp lãnh thổ Đông Á, và lập kế hoạch tấn công Trung Quốc trong trường hợp chiến tranh.

Việc ngăn chặn vòng xoắn này đòi hỏi cả hai bên phải rõ ràng- thật tâm nhìn vào sự cân bằng của sự giàu có và quyền lực. Trung Quốc phải nhận ra rằng động cơ kinh tế của nó không đủ mạnh để hỗ trợ những tham vọng lớn về chinh phục lãnh thổ và bá chủ khu vực. Do đó, lựa chọn tốt nhất của nó là trở thành một bên liên quan có trách nhiệm trong trật tự quốc tế hiện có. Mặt khác, Hoa Kỳ phải nhận ra rằng Trung Quốc không có khả năng thống trị Đông Á, đừng nói chi đến thách thức Hoa Kỳ về vị trí dẫn đầu toàn cầu. Và vì thế thay vì chuẩn bị cho chiến tranh phòng ngừa, Hoa Kỳ nên củng cố cán cân quyền lực hiện có ở Đông Á bằng cách giúp các nước láng giềng hàng hải của Trung Quốc phát triển khả năng phòng thủ của họ, tăng cường khả năng quân sự và đa dạng hóa nền kinh tế của họ khỏi thị trường của Trung Quốc.

(*) Cạm Bẫy Thucydides là một thuật ngữ do nhà khoa học chính trị người Mỹ Graham T. Allison đặt ra để mô tả xu hướng rõ ràng đối với chiến tranh khi một cường quốc mới nổi đe dọa thay thế một cường quốc hiện có với tư cách là bá chủ quốc tế. Thucydides là sử gia và Tướng quân Hy Lạp trước Công Nguyên. Ông là tác giả bộ sách Lịch sử Chiến-tranh Peloponnese gồm 8 Quyển, tổng cộng đến 917 Chương. Thucydides được coi là cha đẻ của khoa học lịch sử do những tiêu chuẩn khắt khe mà ông đưa ra đối với việc thu thập cứ liệu và phân tích lịch sử trên cơ sở quan hệ nhân quả không có sự can thiệp của các vị thần, hay các yếu tố tâm linh, như ông đã viết trong lời giới thiệu tác phẩm của mình. Ông cũng là cha đẻ của trường phái chính trị thực dụng coi quan hệ giữa các quốc gia chỉ dựa trên sức mạnh chứ không phải công lý. Những tác phẩm kinh điển của ông hiện vẫn được giảng dạy tại các trường đại học và trường quân sự trên toàn thế giới, riêng phần Đối thoại Melos trong Lịch sử chiến tranh Peloponnese được coi là giáo trình vỡ lòng của bộ môn lý luận quan hệ quốc tế.

Leave a Reply

Dự Báo Thời Tiết

Toronto
overcast clouds
7.5 ° C
8.3 °
6.7 °
70 %
2.1kmh
90 %
Tue
7 °
Wed
10 °
Thu
9 °
Fri
9 °
Sat
2 °

Hot Topics

Trợ cấp khẩn cấp CERB: Ai hưởng? Bao nhiêu? Điều kiện? Ngày nộp đơn? … và nhiều câu hỏi phổ biến khác

Hướng dẫn và giải đáp thắc mắc về Trợ cấp Ứng phó Khẩn cấp Canada (#CERB): Ai hưởng? Bao nhiêu? Điều kiện? Ngày nộp đơn? … và nhiều câu hỏi phổ biến khác #coronavirus #COVID19

Khách của tiệm nail Ontario được khuyến cáo đi xét nghiệm HIV, viêm gan B & C

Khách của tiệm nail ở Guelph, Ontario, được khuyến cáo đi xét nghiệm HIV, viêm gan B & C

Mỗi gia đình Canada được chính phủ trợ cấp bao nhiêu để ứng phó dịch COVID-19?

Mỗi gia đình Canada được chính phủ trợ cấp bao nhiêu để ứng phó dịch COVID-19?

Khách hàng không chịu trả tiền làm nail và buông lời kỳ thị với người gốc Á

Nhân viên của chuỗi tiệm nail ở Toronto bị một khách hàng không hài lòng về cách phục vụ đã phun ra...

Bài Liên Quan

Sóng gió trong quan hệ Việt-Trung

Mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc rất phức tạp và thường xuyên gặp rắc rối.

Cảnh sát Toronto bắt đầu xử dụng máy ảnh trên người vào tuần cuối tháng 10

Bắt đầu từ 26/10/2020, cảnh sát Toronto sẽ bắt đầu xử dụng công nghệ máy ảnh đeo trên người khi tiếp xúc với công chúng.

Ông Trump, đại dịch và quyền hạn của Tổng thống

Đại dịch xuất phát từ Vũ Hán gây 210,000 người Mỹ chết, trên 7 triệu người nhiễm bịnh, trong số có Tổng thống Trump, nên mở đầu cuộc tranh luận giữa hai ứng viên Phó Tổng thống ngày 7/10/2020