fbpx
4.1 C
Toronto
Monday, November 30, 2020

Sóng gió trong quan hệ Việt-Trung

Mới Nhất

Chủ nhà hàng BBQ ở Toronto bị bắt vì bất chấp lệnh phong tỏa COVID-19 được tại ngoại

Chủ nhà hàng thịt nướng Adamson Barbecue ở Etobicoke bị bắt vì công khai không chấp hành các quy định hạn chế về y...

Bé trai 1 tuổi bị bắn chết trong vụ cảnh sát rượt đuổi người cha tình nghi bắt cóc con ở Ontario

Hiện vẫn chưa xác định được ai là người đã bắn phát súng khiến bé trai thiệt mạng

Chính quyền Ontario đề nghị chỉ nên chơi lễ trong gia đình, đừng mời khách khứa

Chính quyền Ontario đang kêu gọi người dân hạn chế tổ chức tiệc tùng đông người trong mùa lễ tết năm nay trong bối...

Liệu Hoa Kỳ có tái đàm phán gia nhập Hiệp định CPTPP ?

Bất kỳ ai thắng cử năm 2020 cũng không thể đưa Mỹ quay trở lại Hiệp Định CPTPP như nhiều người mong đợi... #thoimoicanada #thoimoi #hoaky #TPP #CPTPP #kinhte

Tiêu Điểm

Chương trình mới của liên bang trợ cấp tiền thuê mặt bằng kinh doanh bắt đầu nhận đơn từ ngày 23/11

Các cơ sở thương nghiệp đang gặp khó khăn trong việc trang trải chi phí đại dịch COVID-19 từ thứ Hai 23/11/2020 có thể...

Bầu cử Mỹ 2020: Đảng Dân chủ thắng mà thua

Phạm Vũ Lửa Hạ Kết quả bầu cử chưa ráo mực, nội bộ đảng Dân chủ đã lại hục hặc. Hai tuần qua, ngoài chuyện tổng...

Joe Biden được dự báo đắc cử tổng thống Hoa Kỳ: Tác động ra sao với Canada?

Tóm tắt tác động đối với Canada trong một số vấn đề then chốt nếu Joe Biden đắc cử tổng thống Hoa Kỳ như dự báo

Ontario công bố hệ thống phân loại vùng theo cấp độ hạn chế và phong tỏa chống COVID-19

Có hiệu lực từ 12:01 sáng thứ Bảy ngày 7/11/2020.

Tác giả: HƯƠNG LÊ THU | Lược dịch: Nguyễn Minh Mẫn
Bà Hương Lê Thu là chuyên viên phân tích cấp cao tại Học viện Chính sách Chiến lược Úc.

Giới thiệu

Mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc rất phức tạp và thường xuyên gặp rắc rối. Hà Nội và Bắc Kinh từ lâu đã đưa ra các tuyên bố ngoại giao ca ngợi sự đoàn kết về ý thức hệ và hệ thống chính quyền tương tự, nhưng những thể hiện thiện chí này thường bị lấn cấn bởi các tranh chấp lãnh thổ trên biển, lo ngại về an ninh và cạnh tranh địa chính trị.

Khi nhà cầm quyền Trung Quốc ngày càng quyết đoán hơn và đẩy mạnh phong độ lấn lướt trong các giao dịch với Việt Nam, Hà Nội đều tìm cách thực hiện mọi hành động cân bằng tinh tế đòi hỏi tránh sai sót từng ly từng tí. Ngay  khi nhà cầm quyền Việt Nam vẫn để ngỏ các kênh ngoại giao với Bắc Kinh, họ  đ?ng th?i c?ng? t?m c?ch kh?ng ??nh v? v?n ??ng cho ch? quy?n v? quy?n c?a m?nh b?ng c?ch ?a d?ng h?a quan h? ??i t?c ngo?i giao v? t?ng c??ng n?ng l?c c?a ch?nh m?nh. C?c nh? l?nh ??o Vi?t Nam ph?i ??i m?t v?i nh?ng quy?t ?ồng thời cũng  tìm cách khẳng định và vận động cho chủ quyền và quyền của mình bằng cách đa dạng hóa quan hệ đối tác ngoại giao và tăng cường năng lực của chính mình. Các nhà lãnh đạo Việt Nam phải đối mặt với những quyết định mang tính hệ quả trong vài năm tới. Cách họ điều chỉnh phương hướng cho những lựa chọn này sẽ là một phong vũ biểu chính để đánh giá thái độ của các nước láng giềng Trung Quốc đang phản ứng về sức ảnh hưởng ngày càng tăng của Bắc Kinh.

TÌNH ĐỒNG CHÍ MONG MANH

Việt Nam và Trung Quốc có một lịch sử ngoại giao sâu sắc mặc dù đôi khi không mấy dễ chịu. Tương tác giữa hai quốc gia đã kinh qua hàng thiên niên kỷ, năm 2020 đánh dấu kỷ niệm 70 năm quan hệ ngoại giao chính thức giữa hai chế độ chính trị hiện tại của hai quốc gia. Tháng 1 năm 1950, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trở thành nước đầu tiên chính thức công nhận Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hai bên chính thức hóa quan hệ láng giềng theo nguyên tắc “quan hệ hữu nghị Trung-Việt vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng”.

Tiến nhanh đến năm 2020, hai nước láng giềng đã tổ chức lễ kỷ niệm để tưởng nhớ tầm quan trọng của mối quan hệ và thể hiện hình ảnh thiện chí ngoại giao. Các phương tiện truyền thông nhà nước chính thức của cả hai bên tái khẳng định rằng năm nay sẽ đánh dấu một cột mốc quan trọng đối với hai nước nhằm làm sâu sắc hơn mối quan hệ hữu nghị giữa hai đảng, nhà nước và quốc gia vốn đã bền chặt. Nhưng bất chấp những lễ kỷ niệm được dàn dựng này, tất cả đều không ổn giữa Hà Nội và Bắc Kinh. Vào năm 2020, mối quan hệ đã được thúc đẩy bởi căng thẳng gia tăng, tình bạn thân thiết yếu đi và ý thức cạnh tranh ngày càng tăng.

Đây không phải là lần đầu tiên mối bất hòa giữa Việt Nam và Trung Quốc nổi lên. Trải qua bảy thập niên ngoại giao chính thức giữa hai chế độ hiện tại được xây dựng dựa trên những tương tác lịch sử hàng thiên niên kỷ trước đó, hình ảnh láng giềng mà hai bên tìm cách xây dựng đã trải qua không ít thách thức. Trong khi quan hệ Trung-Việt đã trải qua nhiều chu kỳ xấu đi và sau đó là quá trình tái chuẩn hóa, thời điểm hiện tại được cho là một trong những điểm thấp nhất của mối quan hệ kể từ những năm 1980. Trong thập niên đầy biến động đó, chiến tranh biên giới giữa  hai nước láng giềng đã xảy ra (năm 1979) và trên biển cả khi Trung Quốc chiếm giữ cái mà Việt Nam gọi là Đảo Gạc Ma (còn gọi là Johnson South Reef hoặc Chigua Reef) vào năm 1988, dẫn đến thương vong cho Việt Nam.

Căng thẳng cuối cùng rồi cũng được giảm xuống, Hà Nội và Bắc Kinh lại bình thường hóa quan hệ vào năm 1991 với mục tiêu duy trì quan hệ tích cực. Tuyên bố được xem xét cẩn trọng để đánh dấu dịp này đã ca ngợi những nguyên tắc chung về tình thân ái và mục đích chung là kim chỉ nam cho quan hệ song phương: láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài và định hướng tương lai tựa như bốn biểu tượng chính đóng vai trò như những người hàng xóm tốt, đồng chí tốt, bạn bè tốt và đối tác tốt.

Việt Nam và Trung Quốc bình thường hóa quan hệ vào thời điểm mà Hà Nội còn có rất ít tiếp xúc về mặt ngoại giao so với hiện nay. Đồng minh duy nhất của Việt Nam vào thời điểm đó – Liên Xô – vừa sụp đổ, và Hà Nội vẫn bị cô lập rất nhiều so với phần còn lại của cộng đồng quốc tế. Việt Nam vẫn chưa trở thành một phần của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), cũng như chưa bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, vì vậy quốc gia này vẫn đang bị cô lập về ngoại giao nghiêm trọng, viện trợ rất hạn chế và lệnh cấm vận thương mại đã cắt đứt quan hệ với các nền kinh tế công nghiệp.

Sự cải thiện trong quan hệ Trung-Việt phụ thuộc vào một số thỏa hiệp mà Hà Nội đã thực hiện. Những thay đổi này bao gồm việc ban hành chính sách an ninh quốc gia được gọi là “Ba không, không tham gia vào các liên minh quân sự,  không liên kết với quốc gia này để chống lại  quốc gia khác, và không để các căn cứ quân sự nước ngoài trên đất Việt Nam” một phần, chính sách này được thiết kế nhằm thuyết phục Bắc Kinh rằng Hà Nội sẽ không tìm cách gây ra bất kỳ mối đe dọa nào đối với vùng ngoại vi của Trung Quốc.

MỘT TRỜI CÁCH BIỆT

Tuy nhiên, việc bình thường hóa đã không đặt tất cả những khác biệt giữa Bắc Kinh và Hà Nội vào sự yên bình mong đợi. Trong khi ngoại giao đã là cầu nối để làm giảm đi một số chia rẽ, thì những căng thẳng khác đã được chứng minh là khó chữa hơn và thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn theo thời gian. Một trong những “thành công” là các cuộc đàm phán liên quan đến những  tranh chấp song phương ở Vịnh Bắc Bộ trong suốt những năm 1990; một nghị quyết được hoàn thiện vào năm 2000 và trở thành một mô hình mẫu mực về cách những người hàng xóm đôi khi có thể giải quyết thành công sự khác biệt của họ.

Những đột phá ngoại giao về tranh chấp lãnh thổ trên biển đối với quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa ở Biển Đông đã chứng tỏ là khó nắm bắt hơn nhiều. Biển Đông là lợi ích cốt lõi của cả Việt Nam và Trung Quốc. Đường bờ biển của Việt Nam giáp với Biển Đông dài hơn 3,000 km. Trung Quốc cũng coi việc kiểm soát các vùng biển này có tầm quan trọng chiến lược cao. Năm 2012, Chủ tịch Trung Quốc lúc bấy giờ là Hồ Cẩm Đào đã lên tiếng bày tỏ mong muốn đưa Trung Quốc trở thành một quốc gia hàng hải hùng mạnh. Kể từ đó, các kế hoạch của Bắc Kinh nhằm kiểm soát các vùng biển của Biển Đông càng trở nên rõ ràng hơn.

Sau khi nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình lên nắm quyền, Trung Quốc càng trở nên quyết đoán hơn trong lĩnh vực hàng hải này, theo đuổi các hoạt động cải tạo mở rộng, quân sự hóa các vùng biển lân cận mà nước này kiểm soát và tăng cường các hoạt động cưỡng chế trên  biển và các vùng nước xung quanh.

Những tranh chấp này vẫn là điểm gây tranh cãi chính giữa Việt Nam và Trung Quốc, và ở nhiều khía cạnh, chúng tạo thành động lực chính trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Sự gần gũi về địa lý của Việt Nam với những vùng biển này cản trở tham vọng Biển Đông của Trung Quốc. Đặc biệt, nhiều quốc gia khác xem vị trí của Hà Nội là quan trọng để chống lại chủ nghĩa bành trướng trên biển của Trung Quốc. Những hành động gây hấn và khiêu khích gần đây của Bắc Kinh ở Biển Đông khiến Hà Nội đặt câu hỏi về mức độ cam kết của nhà cầm quyền Trung Quốc đối với mục tiêu chung là giải quyết những tranh chấp này một cách hòa bình và công bằng.

Để giảm thiểu sự chênh lệch quyền lực mà nước này phải chịu so với nước láng giềng khổng lồ của mình, Hà Nội đã tìm cách can dự với Bắc Kinh theo nhiều cách. Việt Nam đã cố gắng bảo vệ chủ quyền của mình đồng thời hợp tác với Trung Quốc trên tinh thần “vừa hợp tác vừa đấu tranh”. Bất chấp sự ngờ vực lẫn nhau kéo dài, Hà Nội và Bắc Kinh đã tạo ra các kênh liên lạc mới bao gồm các cuộc đàm phán giữa các bên, các cuộc đối thoại tập trung vào quốc phòng và một đường dây điện thoại trực tiếp để xử lý các tình huống khẩn cấp ở Biển Đông. Điều này dường như cho thấy các tranh chấp lâu dài của hai bên đã không hề tiêu hao và làm xấu đi mối quan hệ của họ một cách triệt để, và những bất đồng của họ cũng không phải là khía cạnh đáng chú ý duy nhất trong quan hệ song phương. Trên thực tế, Việt Nam đã nhận được nhiều lời khen ngợi về khả năng “ngăn chặn” thành công các tranh chấp trên biển với Trung Quốc và hợp tác trên các mặt khác, bao gồm phát triển kinh tế, cơ sở hạ tầng, giáo dục, và thậm chí cả đối thoại chính trị. Nhưng trạng thái cân bằng tương đối này đang dần bị xói mòn trong những năm gần đây.

Một bước ngoặt đặc biệt được biết đến là  sự cố xảy ra vào giữa năm 2014 liên quan đến một giàn khoan dầu do Trung Quốc vận hành có tên Haiyang Shiyou 981. Cuối mùa xuân năm đó, Công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã đưa giàn khoan dầu vào sâu trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Trong nhiều tuần, các tàu của Trung Quốc và Việt Nam quấy rối lẫn nhau dữ dội và có vẻ như đang trên đà bạo lực. Sự việc đó được coi là lần gần nhất giữa Hà Nội và Bắc Kinh leo thang thành đối đầu công khai kể từ sau sự cố đẫm máu ở Johnson South Reef, Gạc Ma, năm 1988. Để đối phó với giàn khoan dầu ngang ngược, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã tham gia vào một chiến dịch truyền thông toàn cầu để nâng cao nhận thức quốc tế về sự quyết đoán của Trung Quốc. Mặc dù sự việc cuối cùng đã được giải quyết và CNOOC đã rút giàn khoan dầu trước thời gian dự kiến vận hành. Việc gây hấn của Trung Quốc ở Biển Đông luôn thúc đẩy Hà Nội tìm kiếm những cách khác để giảm bớt sự mất cân bằng quyền lực giữa hai bên.

Vụ giàn khoan dầu năm 2014 là một lời cảnh tỉnh cho Hà Nội và một lời nhắc nhở về sự mong manh của tình đồng chí giữa họ với Bắc Kinh. Nó nhấn mạnh rằng quy mô và sức mạnh của Trung Quốc sẽ tạo điều kiện cho hành vi quốc tế của họ hơn bất kỳ nội dung nào của sự đoàn kết ý thức hệ. Do đó, Việt Nam đã tìm cách đa dạng hóa mạng lưới đối tác ngoại giao và thực hiện các biện pháp phòng ngừa khác để bảo vệ lợi ích của mình.

Bắc Kinh được dự đoán có thể sẽ mở rộng vòng tay thân thiện để giải quyết ổn thỏa mọi chuyện sau sự cố giàn khoan dầu, như nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn thường làm sau những suy thoái mạnh trong quan hệ ngoại giao. Với tinh thần này, ông Tập đã đến thăm Hà Nội vào năm 2015. Bất chấp những nỗ lực ngoại giao của Trung Quốc nhằm duy trì tình thân ái láng giềng, mối quan hệ này đã xấu đi thêm nữa khi các hành động khiêu khích của Bắc Kinh tiếp tục và ngày càng gia tăng.

Việc Trung Quốc bác bỏ toàn diện phán quyết của tòa án độc lập về các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông vào mùa hè năm 2016 là một dấu hiệu đáng báo động khác. Trong khi bản thân Việt Nam không phải là bên yêu sách trong vụ kiện, nhưng  các thủ tục liên quan đến Trung Quốc và Philippines (và đặc biệt là phản ứng của nhà cầm quyền Trung Quốc) vẫn bao trùm  lên sự kiện các tranh chấp đang diễn ra của Bắc Kinh với Hà Nội. (Philippines đã nêu ra vụ việc dưới thời cựu tổng thống Benigno Aquino III để thách thức cơ sở pháp lý mỏng manh cho các yêu sách lãnh thổ sâu rộng của Trung Quốc ở Biển Đông trong đường chín đoạn). Tòa án năm 2016 đã ra phán quyết bác bỏ bất kỳ cơ sở pháp lý nào cho các yêu sách lịch sử có tính bành trướng của Trung Quốc, một quyết định mà Hà Nội nhiệt tình ủng hộ. Tòa án quyết định rằng không có rạn san hô hoặc đảo san hô nào trong quần đảo Trường Sa có thể được coi là đảo một cách hợp pháp, một phán quyết  có thể làm hủy bỏ các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh đối với vùng đặc quyền kinh tế 200 dặm dựa trên cơ sở đó.

Cảm giác oan ức cũng chỉ tồn tại cho một thời gian ngắn, Trung Quốc tiếp tục bác bỏ phán quyết của tòa án và tiếp tục khẳng định những tuyên bố trước đây của mình không hề nao núng. Tình trạng này hầu như không khiến cho Việt Nam và các bên tranh chấp khác được cam kết rằng các quyền chủ quyền của họ tiến hành các hoạt động kinh tế trong các đặc khu kinh tế của họ sẽ được bảo vệ. Thay vào đó, họ thậm chí còn thấy mình bị các hành động của Trung Quốc thách thức và quấy rối hơn trước. Nhiều nhà quan sát coi sự phát triển này là một phần trong xu hướng đáng lo ngại về quyết tâm ngày càng gia tăng của ông Tập trong việc sử dụng quyền lực của Trung Quốc một cách không cần biện hộ. Sự biến đổi của Bắc Kinh đã không còn chỗ cho các khía cạnh khác của quan hệ Trung-Việt phát triển, vì Biển Đông hiện chiếm ưu thế trong mối quan hệ.

Kết quả là Việt Nam đã phải hứng chịu sự cưỡng bức của Trung Quốc, đặc biệt là trong lĩnh vực hàng hải trong những năm gần đây. Theo nhiều cách, Hà Nội đã phải chịu gánh nặng của những căng thẳng này. Các bên tranh chấp khác như Brunei, Malaysia, và thậm chí cả Philippines trong những năm gần đây đã hạ thấp các yêu sách của họ đối với Trung Quốc hơn nhiều so với trước đây. Điều này đặc biệt đúng với Philippines dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte, người đã làm dịu lập trường của đất nước mình về các tranh chấp trong khi thu hút đầu tư của Trung Quốc và các lợi ích ngoại giao khác. Trong nhóm này, Việt Nam vẫn là quốc gia hăng hái nhất theo đuổi và ủng hộ các yêu sách của mình và đóng vai trò là tiếng nói tích cực trong các cuộc đối thoại tranh chấp khu vực. Trước sự tự tin, quyết đoán và thậm chí hiếu chiến của Trung Quốc ngày càng tăng, Hà Nội đã tiến gần đến nguy cơ trở thành một pháo đài đơn độc chống lại sự bành trướng của Bắc Kinh.

Về phần mình, nhà cầm quyền Trung Quốc và truyền thông nhà nước đã gán cho Việt Nam là “kẻ gây rối” và đưa ra những tuyên bố khó hiểu rằng Hà Nội đang hành động thiếu thiện chí theo những cách làm suy yếu việc giải quyết tranh chấp và những dấu hiệu cho thấy tiến bộ đạt được trong các cuộc đàm phán về một bộ quy tắc Trung Quốc-ASEAN được đề xuất tiến hành trong Biển Đông.

Nhưng, từ quan điểm của Việt Nam, điều mà Bắc Kinh ca ngợi là tiến bộ trong các cuộc đàm phán này thực sự không có lợi cho các bên tranh chấp Đông Nam Á. Hà Nội lo ngại rằng kết quả có thể là một cái vỏ rỗng của một thỏa thuận chứ không phải là một cơ chế có ý nghĩa để giải quyết tranh chấp, nếu cái gọi là tiến bộ ngoại giao này không đồng thời với việc thu nhỏ các hành động khiêu khích trên thực tế. Hơn nữa, Bắc Kinh, bất chấp phán quyết của tòa án năm 2016, vẫn tuân thủ các tuyên bố chủ quyền của mình dựa trên đường chín đoạn và vẫn cáo buộc Việt Nam xâm phạm vùng biển của họ.

KÊU GỌI HỖ TRỢ 

Việt Nam không phải là quốc gia duy nhất nhận thấy hành vi quốc tế của Trung Quốc dưới thời ông Tập là đáng lo ngại. Một số quốc gia khác trên thế giới dường như đang đặt câu hỏi liệu con đường hiện tại mà Trung Quốc đang đi có phản ánh sự quan tâm liên tục đến việc chung sống hòa bình hay thiên hướng khẳng định các quyền và vị trí nổi bật của mình trong hệ thống quốc tế. Thái độ và hành vi của Bắc Kinh đã làm thay đổi quan điểm của nhiều quốc gia khác về Trung Quốc — đặc biệt là Hoa Kỳ. Hà Nội và Washington cảm nhận rõ ràng về mối đe dọa mà Trung Quốc có thể gây ra đã hội tụ trong một thời gian, nhưng dưới thời chính quyền của Tổng thống Donald Trump, xu hướng này thậm chí còn rõ ràng hơn dự đoán, thể hiện rõ ràng từ tư thế cứng rắn của Washington đối với Trung Quốc.

Để thực sự tiến hành điều  cả tin của mình và  nhận thức được những quan điểm tương tự này, Việt Nam đã nỗ lực tăng cường hơn nữa quan hệ ngoại giao và quan hệ đối tác với các cường quốc quan trọng, bao gồm Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU, Australia và Ấn Độ. Các cường quốc này đã cải thiện hợp tác an ninh, đặc biệt chú ý đến các vấn đề hàng hải. Sự hòa giải của Hà Nội với Washington và cải thiện quan hệ với các cường quốc khác là những bước quan trọng nhằm ngăn chặn mối đe dọa mà Trung Quốc gây ra.

Điều đó không có nghĩa là Hoa Kỳ và Việt Nam là đối tác tự nhiên hay toàn diện — mối quan hệ của họ cũng không phải là không có gì. Sự mất cân bằng thương mại của Hoa Kỳ vẫn là một cái gai đối với phe Trump và ông dường như coi Hà Nội cũng là một phần của vấn đề giống như Bắc Kinh. Ông gọi Việt Nam là “kẻ lạm dụng [thương mại] tồi tệ nhất trong tất cả mọi người” và từng cảnh báo rằng Việt Nam sẽ bị nhắm tới với thuế quan sau Trung Quốc. Bất chấp những thách thức còn tồn tại đối với mối quan hệ song phương đang ngày càng đi vào chiều sâu, Việt Nam và Hoa Kỳ đã nhận thấy nhau là những đối tác bất thường vào thời điểm bất thường.

Bất chấp những khác biệt này, Hà Nội vẫn đầu tư vào việc khuyến khích Washington chú ý đến các vấn đề ở Đông Nam Á và Biển Đông. Việt Nam đã có một số thành công trong việc thu hút sự chú ý của Trump — đây là quốc gia Đông Nam Á duy nhất mà ông đã đến thăm hai lần trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, kể từ khi ông tham dự Hội nghị Cấp cao Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) 2017 tại Đà Nẵng và tổ chức hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai với Kim Jong Un tại Hà Nội năm 2019.

Quan điểm của nhiều quốc gia Đông Nam Á về Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Trump ngày càng trở nên tiêu cực. Trong một cuộc thăm dò năm 2019 do Viện Yusof-Ishak có trụ sở tại Singapore thực hiện, 68% tổng số người được khảo sát từ mười quốc gia ASEAN cho rằng sự tham gia của Hoa Kỳ trong khu vực dưới thời Trump đã giảm. Phiên bản năm 2020 của cuộc khảo sát cho thấy 77% số người được hỏi trong khu vực hiện giữ quan điểm này.

Ngược lại, Hà Nội dường như có quan điểm tương đối tích cực hơn hoặc ít nhất là khoan dung hơn về các kế hoạch khu vực của Trump so với các nước láng giềng. Cùng một nghiên cứu năm 2020 cho thấy 52,6% người Việt Nam được hỏi tin tưởng vào vai trò an ninh của Hoa Kỳ trong khu vực, trong khi điểm trung bình ở Đông Nam Á là 34,9%. và để đối phó với một kịch bản giả định buộc phải chọn phe giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc, Việt Nam là quốc gia trong khu vực có nhiều khả năng chọn Hoa Kỳ nhất (85,5%), trong khi điểm trung bình của toàn khu vực là 53,6 phần trăm.

Washington từ lâu đã cố gắng không đứng về bên nào trong các tranh chấp ở Biển Đông. Nhưng với sự cạnh tranh ngày càng gia tăng của Hoa Kỳ với Trung Quốc, điều này cũng đang thay đổi. Bộ Ngoại giao Mỹ đã nhiều lần chỉ trích hành vi của Bắc Kinh đối với Việt Nam ở Biển Đông, đồng thời thừa nhận quyền hợp pháp của Hà Nội trong việc sử dụng tài nguyên trong EEZ của mình. Tuyên bố vào tháng 7 của Bộ Ngoại giao đã cập nhật đáng kể quan điểm của nước này bằng cách bác bỏ rõ ràng các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc và ủng hộ quyền khai thác tài nguyên ngoài khơi của các bên tranh chấp ở  Đông Nam Á. Đây là một bước phát triển rất quan trọng đối với Việt Nam, quốc gia đã phải chịu ảnh hưởng về mặt chính trị và kinh tế do sự ép buộc của Trung Quốc đối với các tài nguyên biển này.

Ngoài các tranh chấp lãnh thổ trên biển, Hoa Kỳ và Việt Nam chia sẻ sự thiếu tin tưởng vào các công nghệ viễn thông do Trung Quốc sản xuất, đặc biệt là các thành phần 5G do các công ty Trung Quốc như Huawei và ZTE cung cấp. Quan điểm được chia sẻ này trùng khớp với chiều hướng mới nhất của cuộc cạnh tranh quyền lực lớn giữa Washington và Bắc Kinh sau lệnh cấm của Trump vào tháng 5 năm 2019 đối với thiết bị Huawei trong mạng viễn thông của Hoa Kỳ, các bước tiếp theo để thắt chặt các hạn chế này và một chiến dịch gây áp lực liên quan để can ngăn các quốc gia khác từ việc sử dụng các thành phần của Huawei.Việc loại trừ gã khổng lồ viễn thông Trung Quốc khỏi các mạng của Mỹ có thể sẽ có tác động lớn ngoài khía cạnh kinh tế và ngoại giao của cạnh tranh Trung-Mỹ và sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến bối cảnh kỹ thuật số của nhiều quốc gia khác trong tương lai. Phần còn lại của cộng đồng quốc tế có quan điểm khác nhau về quyết định gây tranh cãi này, vì ngay cả một số đối tác và đồng minh thân cận nhất của Hoa Kỳ cũng còn chần chờ  về cách phản ứng, mặc dù ngày càng nhiều quốc gia đang xem xét ban hành lệnh cấm tương tự của họ một cách rõ ràng hoặc ẩn ý.

Mặc dù Việt Nam chưa chính thức cấm Huawei nhưng đây là quốc gia đầu tiên và cho đến nay là một trong hai quốc gia Đông Nam Á tránh đưa công nghệ của công ty Trung Quốc vào mạng 5G do các vấn đề an ninh. (Singapore đã hoàn tất các thỏa thuận với Ericsson và Nokia vào tháng 6 năm 2020 để trở thành nhà cung cấp 5G được lựa chọn của họ). Bằng cách đó, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới xây dựng mạng 5G của riêng mình. Viettel, một công ty viễn thông trong nước thuộc sở hữu của nhà cầm quyền Việt Nam, đã hợp tác với Ericsson để tạo ra công nghệ 5G cây nhà lá vườn, đã vượt qua thử nghiệm đầu tiên tại Hà Nội vào đầu năm 2020. Công nghệ này hiện đang được thử nghiệm tại Thành phố Hồ Chí Minh, và kế hoạch là nó sẽ được triển khai vào năm 2021.

Nếu dự án thành công, các quốc gia khác có thể coi mô hình của Việt Nam là đáng noi theo, do Viettel đầu tư vào lĩnh vực viễn thông ở Myanmar, Lào và Campuchia. Đây không phải là lần đầu tiên Việt Nam chia tay Trung Quốc về an ninh mạng viễn thông. Viettel và một nhà cung cấp mạng khác của Việt Nam, Mobifone, đã hợp tác phát triển và xây dựng mạng 4G của quốc gia này với Nokia và Ericsson, mặc dù các công ty viễn thông Trung Quốc bao gồm ZTE đã giúp phát triển mạng 3G trong nước của quốc gia này.

Trong việc phát triển mạng 5G của riêng mình, Hà Nội không chỉ nhằm mục đích ngăn chặn Huawei. Ngoài những lo ngại về bảo mật, mạng 5G trong nước của Việt Nam là một khía cạnh quan trọng trong chiến lược của quốc gia nhằm khai thác các công nghệ tiên tiến và mở rộng sản xuất công nghệ cao trong nước, hai lĩnh vực được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh. Đất nước có tiềm năng kỹ thuật số cao, do có nhân khẩu học trẻ và năng động. Với 5G và các kế hoạch số hóa quốc gia, Việt Nam đặt mục tiêu sử dụng nỗ lực này làm bàn đạp để trở thành người có vai trò trong các khía cạnh khác của cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngoài 5G, bao gồm thương mại điện tử và hệ thống thanh toán trực tuyến. Trong tất cả các lĩnh vực này, các quy chuẩn và tiêu chuẩn mạng không chỉ là vấn đề của lợi ích tư nhân và thương mại mà còn có thể là vấn đề an ninh quốc gia quan trọng. Đây là những lĩnh vực quan trọng để quan sát xem các công ty công nghệ lớn của Trung Quốc như Alibaba, Tencent và Baidu có xâm nhập vào Việt Nam trên các mặt trận công nghệ khác hay không.

THỰC HIỆN NHỮNG THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC CẦN THIẾT

Ngoài cách tiếp cận ngoại giao được đổi mới, những lo ngại về an ninh của Việt Nam cũng đã thúc đẩy Việt Nam điều chỉnh thêm triển vọng quốc phòng và các khái niệm chiến lược, như được phản ánh trong “Sách trắng Quốc phòng” cập nhật vào tháng 12 năm 2019 của Hà Nội. Tài liệu sửa đổi đó sử dụng ngôn từ mạnh mẽ và phác thảo tình hình an ninh đang suy giảm mà Việt Nam đang phải đối mặt. Khi nêu ra những rủi ro này, sách trắng không xác định rõ ràng quốc gia nào thúc đẩy những thay đổi này. Nhưng rõ ràng nó ám chỉ Trung Quốc là thách thức an ninh chính của Việt Nam khi viện dẫn các khiếu nại về “các hành động đơn phương, cưỡng bức dựa trên sức mạnh, vi phạm luật pháp quốc tế, quân sự hóa, thay đổi hiện trạng và xâm phạm chủ quyền của Việt Nam,” cùng các cáo buộc khác.

Tài liệu chiến lược đã cập nhật chính sách Ba không của Việt Nam và bao gồm thêm Điều Không thứ tư là tố cáo việc sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực để giải quyết tranh chấp. Bằng cách này, Hà Nội đang vạch ra đường ranh đỏ của mình. Bất chấp các điều khoản ban đầu của Ba Không, Hà Nội dường như đang khắc phục các ngoại lệ có mục tiêu để mở rộng quyền tự do hành động của mình. Văn kiện nêu rõ Nhà cầm quyền Việt Nam “sẵn sàng đón tiếp các tàu của hải quân, tuần duyên, biên phòng và các tổ chức quốc tế đến thăm cảng có tính xã giao  hoặc thông thường hay dừng lại tại các cảng của mình để sửa chữa, bổ sung vật tư hậu cần, kỹ thuật hoặc tiếp tế quốc nạn”. Việc Việt Nam cởi mở cho phép tàu từ các quốc gia khác cập cảng của mình có thể được coi là sự chứng thực cho sự hợp tác quân sự hơn nữa với các bên trong khu vực và toàn cầu. Đáng chú ý, chính sách như vậy đi ngược lại các khuyến nghị của Trung Quốc về quy tắc ứng xử của ASEAN đối với Biển Đông, nhằm hạn chế quan hệ quân sự của các nước trong khu vực với các cường quốc bên ngoài.

Những diễn biến gần đây ở Biển Đông trong vài năm qua đã trở thành những minh chứng rõ ràng về sự miễn cưỡng của Bắc Kinh trong việc tiếp tục tôn trọng các nguyên tắc hòa bình của láng giềng tốt. Việt Nam vô cùng bất bình và vô cùng phản đối sự cố xảy ra vào tháng 4 năm 2020, trong đó tàu Cảnh sát biển Trung Quốc đâm và đánh chìm một tàu đánh cá của Việt Nam gần đảo Woody. Hà Nội đã đệ trình các tài liệu lên Liên Hợp Quốc để phản đối các hành động của Trung Quốc, một trường hợp hiếm hoi và nghiêm túc trong đó nhà cầm quyền Việt Nam có cơ hội để leo thang hành động ngoại giao nhắm đến các cơ quan đa phương trong khu vực. Việt Nam cũng đã đảm bảo một ghế thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc từ năm 2020 đến năm 2021, một vai trò mang lại cho Hà Nội cơ hội bày tỏ quan ngại về những tác động lớn hơn của các tranh chấp lãnh thổ trên biển. Nhưng điều này không hề làm nản lòng Trung Quốc.

Đại dịch coronavirus có thể chỉ khiến Bắc Kinh thêm khích lệ. Vào tháng 4 năm 2020, Trung Quốc đã tạo ra hai khu hành chính mới trên các phần của Biển Đông mà Việt Nam cũng tuyên bố chủ quyền, bao gồm cả những nơi mà công dân Việt Nam đã sinh sống trong nhiều thập kỷ. Bắc Kinh đã tạo ra khu vực Tây Sa trên quần đảo Hoàng Sa và khu vực Nam Sa trên quần đảo Trường Sa, cả hai khu vực này sẽ do chính quyền Tam Sa quản lý, một thành phố nhỏ được xây dựng trên đảo Woody Island và Fiery Cross Reef được coi là một phần hành chính của tỉnh Hải Nam Trung Quốc. Bắc Kinh thành lập hai quận này để quản lý quần đảo tốt hơn, cải thiện cơ sở hạ tầng địa phương và củng cố vị trí an ninh của nó. Hà Nội ngay lập tức phản đối động thái này như một hành động khiêu khích ngoại giao và vi phạm các quyền chủ quyền của Việt Nam.

Đại dịch đã gây xáo trộn đối với ngoại giao quốc tế, cũng như đối với rất nhiều khía cạnh khác của cuộc sống hàng ngày. Nó đã ảnh hưởng đến các cuộc họp và tham vấn thượng đỉnh khu vực, làm trì hoãn một số cuộc họp và khiến những cuộc họp khác phải chuyển sang các cuộc họp trực tuyến. Với tư cách là chủ tịch ASEAN năm 2020, nhiệm vụ của Việt Nam không hề dễ dàng khi tìm cách tiếp tục đối thoại, triệu tập các cuộc thảo luận tập thể về các vấn đề khu vực và thậm chí tiến hành các cuộc đàm phán quan trọng, bao gồm cả về Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực hoặc các cuộc đàm phán kéo dài về bộ quy tắc ứng xử trong Biển Đông.

TỪ ĐÂY SẼ ĐI VỀ ĐÂU?

Sau đó, câu hỏi trở thành: chính sách của Việt Nam đối với Trung Quốc và các đối tác ngoại giao khác trong khu vực sẽ tiếp tục phát triển như thế nào để đáp ứng những thách thức an ninh ngày càng tăng của đất nước?

Một yếu tố quan trọng cần theo dõi là cách Việt Nam phát huy ảnh hưởng của mình tại các cơ sở đa phương như ASEAN và LHQ, đặc biệt là với vai trò hiện tại của mình trong Hội đồng Bảo an LHQ (đến cuối năm 2021) và là Chủ tịch ASEAN vào năm 2020 với hội nghị cấp cao cuối cùng của ASEAN vẫn còn ở phía trước, vai trò chủ tịch năm nay không thiếu thách thức, nhưng cho đến nay Hà Nội vẫn cố gắng đưa ra các vấn đề gây tranh cãi về Biển Đông và kêu gọi tuân thủ Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển trong các tuyên bố chung của cộng đồng.

Những thay đổi trong nước cũng có thể xảy ra. Việt Nam đang chuẩn bị cho Đại hội Đảng toàn quốc vào năm 2021, một sự kiện chính trị lớn chỉ diễn ra 5 năm một lần và trong đó các nhà lãnh đạo của đất nước công bố những thay đổi lớn về các vị trí chính trị chủ chốt và công bố nhân sự. Đại hội cũng sẽ mang tính quyết định trong việc định hình kế hoạch kinh tế xã hội quốc gia mới của đất nước cho giai đoạn 2021–2030, cũng như các ưu tiên khác bao gồm cả về chính sách đối ngoại. Các chỉ định được đưa ra và các chính sách được đưa ra tại Đại hội Đảng lần thứ 13 sắp tới của Việt Nam, dự kiến ​​vào đầu năm 2021, sẽ đóng vai trò xác định hướng đi trong tương lai của mối quan hệ song phương với Trung Quốc.

Một số câu hỏi chính có thể phải chờ ban lãnh đạo mới quyết định. Chúng bao gồm các câu hỏi về Biển Đông mà Hà Nội từ lâu đã hạn chế thực hiện các hành động pháp lý chính thức vì lợi ích láng giềng tốt. Nhưng, cuối cùng, nhà cầm quyền Việt Nam đã bắt đầu cân nhắc xem có nên sử dụng biện pháp truy đòi hợp pháp hay không. Sự cạnh tranh của Hà Nội với Bắc Kinh về Biển Đông và nhận thức về mối đe dọa của họ đối với sự xâm lược của Trung Quốc là những động lực trung tâm định hình tư thế ngoại giao của họ.

Nói một cách đơn giản, chiến lược Biển Đông của Hà Nội từ lâu đã dựa trên bốn thành phần chính. Chúng bao gồm “quốc tế hóa tranh chấp”, xử lý vấn đề trong một “khuôn khổ đa phương” (chủ yếu là ASEAN), “răn đe” Trung Quốc về mặt quân sự trong chừng mực có thể, và giữ cho các kênh ngoại giao với  Bắc Kinh luôn rộng mở. Trong một thời gian, Việt Nam tiếp tục thu hút sự chú ý của quốc tế về những sự cố đáng lo ngại ở vùng biển tranh chấp và các đối tượng địa lý lân cận. Ngoài việc đầu tư vào các biện pháp ngoại giao và xây dựng lòng tin, Việt Nam cũng đã nỗ lực nâng cao hơn nữa tác dụng răn đe bằng các khả năng quân sự của mình. Trong khi đó, các nhà chức trách Việt Nam vẫn tiếp tục theo đuổi đối thoại trực tiếp với Trung Quốc thông qua các kênh khác nhau, bao gồm cả các hình thức chính trị, đảng phái và quân sự. Tất nhiên, quy mô tuyệt đối của sự mất cân bằng giữa hai quốc gia là rõ ràng, nhưng Hà Nội đã áp dụng kết hợp giữa cân bằng mềm và cứng để quản lý sự chênh lệch quyền lực nhiều nhất như có thể.

Cuối cùng, hiệu quả của những công cụ đó ngày càng hạn chế, vì chúng đều đòi hỏi mức độ hợp tác và thiện chí của cả hai bên. Tuy nhiên, các hành động của Bắc Kinh tiếp tục chứng tỏ rằng Trung Quốc ngày càng không phải là một đối tác hợp tác và thay vào đó họ đang chọn tăng gấp đôi các cách quyết đoán mà họ đã xử lý các tranh chấp với Việt Nam cho đến nay. Có rất ít dấu hiệu cho thấy Bắc Kinh sẽ thay đổi quan điểm của mình dưới thời ông Tập. Hà Nội cần có một chiến lược cập nhật về Biển Đông để có thêm lựa chọn nhằm chống lại sự ép buộc của Trung Quốc một cách hiệu quả hơn. Nguyên tắc Không thứ tư được thể hiện trong sách trắng quốc phòng tháng 12 năm 2019 là một bước đi tốt theo hướng đó.

Những thách thức mà Việt Nam phải đối mặt thậm chí còn trở nên phức tạp hơn do đại dịch coronavirus đã làm suy yếu rõ ràng cộng đồng quốc tế và gây ra sự vắng mặt đáng kinh ngạc của lãnh đạo quốc tế. Hoa Kỳ bị phân tâm, đưa ra những tín hiệu trái ngược về việc từ bỏ và gia tăng cạnh tranh với Trung Quốc trong khu vực. Washington sẽ vẫn tập trung vào cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11 năm 2020.

Đồng thời, cộng đồng thế giới  nói chung, ngay cả khi quan tâm đến việc duy trì nguyên tắc giải quyết tranh chấp hòa bình, cũng bị phân tâm đáng kể và bị suy yếu bởi suy thoái kinh tế liên quan đến đại dịch và những hậu quả chính trị của nó. Ngay cả những quốc gia tham gia thường xuyên, như Nhật Bản, cũng không thể được coi là đương nhiên rằng họ sẽ giúp đỡ, vì sự chuyển đổi lãnh đạo gần đây ở Tokyo từ thủ tướng lâu năm Shinzo Abe sang Yoshihide Suga. Úc, Ấn Độ và thậm chí cả EU cũng sẽ bận tâm với các chương trình nghị sự ngoại giao của riêng họ và chỉ ra rằng không có gì cấp bách hơn là việc giải quyết đại dịch và suy thoái kinh tế đang bùng phát mà nó đã sinh ra. Trong một số trường hợp, các ưu tiên của họ có thể là thách thức an ninh của chính họ, như trong trường hợp tranh chấp biên giới của Ấn Độ với Trung Quốc.

Biển Đông, dù là một đối tượng quan trọng, sẽ phải cạnh tranh với nhiều ưu tiên cấp bách hơn. Trong hoàn cảnh như hiện nay, trừ khi nó trở thành một vấn đề cấp bách cần phải được giải quyết ngay, sẽ không ai dám chắc rằng cộng đồng quốc tế sẽ có thể cung cấp được bao nhiêu hỗ trợ ngoài sự hậu thuẫn ngoại giao lẻ tẻ. Mong muốn của Hà Nội là tiếp tục theo đuổi một giải pháp cho các tranh chấp ở Biển Đông thông qua các biện pháp ngoại giao và pháp lý càng lâu càng tốt.

Leave a Reply

Dự Báo Thời Tiết

Toronto
moderate rain
4.1 ° C
5 °
3.3 °
86 %
5.5kmh
100 %
Mon
4 °
Tue
5 °
Wed
3 °
Thu
4 °
Fri
4 °

Hot Topics

Trợ cấp khẩn cấp CERB: Ai hưởng? Bao nhiêu? Điều kiện? Ngày nộp đơn? … và nhiều câu hỏi phổ biến khác

Hướng dẫn và giải đáp thắc mắc về Trợ cấp Ứng phó Khẩn cấp Canada (#CERB): Ai hưởng? Bao nhiêu? Điều kiện? Ngày nộp đơn? … và nhiều câu hỏi phổ biến khác #coronavirus #COVID19

Khách của tiệm nail Ontario được khuyến cáo đi xét nghiệm HIV, viêm gan B & C

Khách của tiệm nail ở Guelph, Ontario, được khuyến cáo đi xét nghiệm HIV, viêm gan B & C

Mỗi gia đình Canada được chính phủ trợ cấp bao nhiêu để ứng phó dịch COVID-19?

Mỗi gia đình Canada được chính phủ trợ cấp bao nhiêu để ứng phó dịch COVID-19?

Khách hàng không chịu trả tiền làm nail và buông lời kỳ thị với người gốc Á

Nhân viên của chuỗi tiệm nail ở Toronto bị một khách hàng không hài lòng về cách phục vụ đã phun ra một câu...

Bài Liên Quan

Liệu Hoa Kỳ có tái đàm phán gia nhập Hiệp định CPTPP ?

Bất kỳ ai thắng cử năm 2020 cũng không thể đưa Mỹ quay trở lại Hiệp Định CPTPP như nhiều người mong đợi... #thoimoicanada #thoimoi #hoaky #TPP #CPTPP #kinhte

Cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ 2020 chưa chấm dứt

Đảng Cộng Hòa đã tiến hành việc kiện tụng nên mặc dù ông Biden tuyên bố đắc cử Tổng thống nhưng đó chỉ là kết quả tạm thời... #thoimoicanada #thoimoi #baucumy #chinhtri

Ai sẽ là Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2021-25?

Không có nơi nào trên thế giới bầu cử theo phương thức cử tri đoàn như ở Mỹ và không có cuộc bầu cử nào tại Mỹ có quá nhiều vấn đề như cuộc bầu cử tổng thống vừa qua. #thoimoicanada #thoimoi #baucu #hoaky